🏔EVEREST 2023 LÊN ĐÈN XỊN - X-LIGHT TỰ TIN CHINH CHIẾN ĐƯỜNG DÀI Chiếc "off-road" Everest thế hệ mới 2023 đầu tiên tại thị trường Việt Nam sở hữu bộ đèn "xịn sò" từ thương hiệu X-Light. 🔥3 cặp đèn module bi LED F+ Pro - Dòng đèn 1.8 inch tiên phong tích hợp Cos/Pha. - Công suất Cos 45W/Pha 50W cùng nhiệt màu
Vốn hóa thị trường của Bitcoin đã giảm 0,5% trong giai đoạn báo cáo xuống còn 365,65 tỷ đô la từ 367 tỷ đô la Vốn hóa thị trường của Ethereum giảm 1,05% xuống còn 157,7 tỷ đô la từ 159,16 tỷ đô la. 10 loại tiền điện tử hàng đầu đều bị lỗ trong 24 giờ qua.
Theo công ty nghiên cứu thị trường Omdia, Samsung Electronics hiện là công ty đứng đầu thị trường TV toàn cầu năm thứ 16 liên tiếp với 19,8% thị phần. Điều này có được nhờ sự đổi mới sáng tạo, kết hợp các công nghệ mang tính đột phá, mở rộng danh mục và tiếp cận nhiều đối tượng người dùng.
Grab Food đứng đầu thị trường Food Delivery, có doanh số khoảng 96 triệu USD (chiếm 65% thị phần) năm 2018 với tốc độ tăng trưởng bình quân 197%/năm trong giai đoạn 2016 - 2018. Thị trường Food Delivery tại Việt Nam không phân mảnh, dẫn đến việc chiếm lĩnh thị phần trong
Việc tăng vốn điều lệ hơn, theo HĐQT MIC, sẽ được đầu tư vào các dự án công nghệ thông tin trọng điểm, bảo hiểm số và gia tăng năng lực tài chính giúp MIC thực hiện khát vọng gia nhập nhóm 3 doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu về thị phần trong năm 2026 và dẫn đầu
vK7p. lượt xem 137 download Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ Phân tích tổng thể về cung cầu về các yếu tố sản xuất trên các loại thị trường khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau ngắn hạn và dài hạn. • Một số đặc điểm cơ bản liên quan đến thị trường lao động, thị trường vốn. • Vai trò của thời gian, thông tin và chi phí giao dịch cũng như hoạt động của một số tổ chức và chính sách Chính phủ ảnh hưởng đến giá cả và mức cung thị trường về các yếu tố đầu vào. Mục tiêu Hướng dẫn học • Hiểu những nhân tố... Chủ đề Kinh tế vi môgiáo trình họcphương pháp phân tíchThị trườngcác yếu tố đầu vào Nội dung Text Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào BÀI 6 THỊ TRƯỜNG CÁC YẾU TỐ ĐẦU VÀO Nội dung • Phân tích tổng thể về cung cầu về các yếu tố sản xuất trên các loại thị trường khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau ngắn hạn và dài hạn. • Một số đặc điểm cơ bản liên quan đến thị trường lao động, thị trường vốn. • Vai trò của thời gian, thông tin và chi phí giao dịch cũng như hoạt động của một số tổ chức và chính sách Chính phủ ảnh hưởng đến giá cả và mức cung thị trường về các yếu tố đầu vào. Mục tiêu Hướng dẫn học • Hiểu những nhân tố nào và xuất phát • Đọc tài liệu. từ đâu mà hình thành nên cầu và cung • Làm bài tập. về các yếu tố sản xuất. • Liên hệ thử 1 nhà máy xem họ mua những đầu • Hiểu và giải thích được tình trạng vào gì? Xem lãi suất ngân hàng ảnh hưởng gì việc làm và tiền lương trong nền kinh đến doanh nghiệp? tế Việt Nam và xu thế chung trên thế • Học viên hình dung xem cần làm gì để ra giới. trường dễ xin được việc làm tốt. • Hiểu giá trị của thời gian và việc nắm bắt thông tin có tác động như thế nào đến giá cả và lượng cung cầu các yếu tố đầu vào. Hiểu hơn về các chính sách của nhà nước tác động đến thị trường đầu vào sản xuất để góp phần giúp đơn vị kinh doanh đưa ra những quyết định phù hợp. Thời lượng học • 8 tiết. 201 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI Đầu vào “dầu thô” của nhà máy Dung quất - Vấn đề xác lập giá như thế nào? Người dân hy vọng là hiện nay đã có dầu sản xuất tại Việt Nam, dùng dầu thô Việt Nam sản xuất ra thì thế nào giá xăng dầu cũng đỡ phụ thuộc vào giá dầu thể giới. Nhưng thực tế lại thấy mối liên hệ giá xăng dầu càng ngày càng khăng khít hơn với giá thế giới! Vì sao như vậy? Vậy người dân có lợi gì từ Nhà máy Lọc dầu Dung Quất? Trao đổi với báo giới, ông Đinh Văn Ngọc, Phó trưởng ban Quản lý dự án Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, cho biết giá xăng dầu "made in Việt Nam" sẽ không thấp hơn giá xăng dầu nhập khẩu. Nguyên nhân là • Nhà máy Lọc dầu Dung Quất chỉ đáp ứng 33% nhu cầu xăng dầu trong nước nên phải tuân theo điều hành vĩ mô về giá của Chính phủ, không thể trong một nước để cùng tồn tại hai mức giá. • Giá dầu thô Bạch Hổ bán cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất tương đương giá xuất khẩu cùng thời điểm. • Đoạn đường vận chuyển dầu thô từ biển vào Dung Quất tương đối xa, vận tải xăng dầu đã qua chế biến từ Quảng Ngãi đi các thị trường tiêu thụ, đặc biệt là Hà Nội và cũng không kém bao nhiêu so với nhập từ Singapore về Việt Nam nên chi phí vận tải không thay đổi lớn. • Nhà máy mới đi vào hoạt động thì chi phí khấu hao thường lớn. Định giá Nhà máy Lọc dầu Dung Quất càng không đơn giản vì giá khi chúng ta bắt đầu xây dựng năm 2005 với giá vật liệu giai đoạn hoàn thiện rất khác nhau. Nếu theo giá hiện hành có thể mất tới 4-5 tỉ USD mới làm được. Câu hỏi 1. Nhà máy lọc dầu Dung quất đang phải mua những đầu vào nào phục vụ cho sản xuất hiện nay? 2. Cầu của nhà máy về những đầu vào này phụ thuộc vào những yếu tố gì? 3. Dầu thô mà nhà máy mua hiện nay đang thuộc loại thị trường gì cạnh tranh hay độc quyền mua – bán? 4. Giá dầu thô mà nhà máy mua phụ thuộc vào những nhân tố nào? 202 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Cầu và cung đầu vào Cầu và cung đầu vào Khái niệm thị trường đầu vào Thị trường các yếu tố đầu vào là thị trường cung cấp các hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Các yếu tố đầu vào chủ yếu bao gồm lao động, các nguyên liệu, nhiên liệu, máy móc thiết bị và các yếu tố đầu vào khác sử dụng trong quá trình sản xuất. Cũng như bất kỳ một thị trường nào, thị trường đầu vào do cầu và cung đầu vào tạo nên và nó cũng có các loại thị trường khác nhau như thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường độc quyền thuần tuý hay độc quyền cạnh tranh và độc quyền nhóm. Bài này chủ yếu tập trung tìm hiểu một số đặc điểm riêng biệt của thị trường đầu vào. Đặc biệt là cầu và cung đầu vào. Cầu đầu vào khi có một yếu tố đầu vào biến đổi Đường cầu cho các yếu tố sản xuất có dạng dốc xuống, giống như đường cầu đối với các hàng hóa tiêu dùng. Tuy nhiên, không giống như cầu của khách hàng người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ, cầu các yếu tố sản xuất còn được gọi là cầu dẫn xuất cầu phát sinh từ cầu về hàng hoá của người tiêu dùng. Cầu dẫn xuất phụ thuộc và bắt nguồn từ mức đầu ra và các chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Ví dụ Cầu của công ty máy tính Apple đối với các đầu vào sản xuất phần mềm và máy tính là một cầu dẫn xuất, phụ thuộc không chỉ vào lương của những lập trình viên máy tính hiện tại, mà còn dựa vào bao nhiêu máy tính và phần mềm mà Apple kỳ vọng bán được. Để phân tích cầu các yếu tố sản xuất, chúng ta sử dụng các đầu vào ở các bài phân tích sản xuất trước để phân tích ở bài này. Giả định rằng doanh nghiệp sản xuất đầu ra bằng hai yếu tố đầu vào, vốn K và lao động L và phí trả cho vốn K là r – chi phí thuê vốn và thuê lao động trả lương cho công nhân w. Vốn này để dùng trong sản xuất như nhà máy và trang thiết bị… Trong ngắn hạn, chỉ có một yếu tố biến đổi là lao động, trong khi vốn thì cố định. Cho nên, các phân tích sẽ tập trung vào cầu đối với một đầu vào biến đổi ở đây là lao động. Sản phẩm doanh thu biên MRP Giả sử rằng doanh nghiệp thuê một lượng công nhân nhất định và muốn biết có hay không có lợi nhuận khi thuê thêm một công nhân. Thuê thêm một công nhân chỉ xứng đáng với số tiền mà người chủ bỏ ra khi doanh thu tăng thêm từ sản lượng đầu ra của lao động đó cao hơn chi phí để thuê người đó làm lao động. Doanh thu tăng thêm từ bán sản phẩm của một đơn vị lao động tăng thêm được gọi là sản phẩm doanh thu 203 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào biên của lao động và được ký hiệu là MRPL. Như vậy, doanh nghiệp chỉ nên thuê thêm lao động nếu MRPL có giá trị lớn hơn hoặc bằng chi phí lương cho công nhân w. Làm thế nào để đo lường MRPL? Lượng đầu ra tăng thêm tạo ra một lượng sản phẩm biên là MPL và doanh thu tăng thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm là MR. Khi đó MRPL được tính như sau MRPL = MPL × MR. Đây là điều kiện quan trọng đúng cho bất kỳ thị trường cạnh tranh nào, không kể thị trường đầu ra là cạnh tranh hay không. Tuy nhiên, để giải thích các đặc điểm của MRPL, hãy bắt đầu với trường hợp của một thị trường đầu ra cạnh tranh hoàn hảo. Trong một thị trường đầu ra cạnh tranh, một doanh nghiệp sẽ bán tất cả đầu ra tại mức giá thị trường P thì doanh thu biên từ việc bán thêm một đơn vị đầu ra sẽ bằng MR = P. Trong trường hợp này, sản phẩm doanh thu biên của lao động bằng sản phẩm biên của lao động nhân với giá thị trường của sản phẩm MRPL = MPL × P. Chú ý rằng sản phẩm biên theo lao động giảm khi lao động tăng lên vì tác động của quy luật lợi tức hiệu suất lao động giảm dần. Đường sản phẩm doanh thu biên do vậy cũng có hướng giảm dần, thậm chí ngay cả khi giá sản phẩm không đổi. Vì khi có quyền lực độc quyền, họ phải hạ thấp giá bán sản phẩm nếu gia tăng sản lượng bán ra. Như một kết quả tất yếu, doanh thu biên luôn thấp hơn giá MR < P và đường doanh thu biên cũng giảm xuống khi đầu ra tăng. Do vậy, đường sản phẩm doanh thu biên có hướng đi xuống trong trường hợp này bởi vì đường doanh thu biên MR và đường sản phẩm biên MPL đều có hướng đi xuống. MRPL = MP × P MRPL = MP × MR 0 Hình Sản phẩm doanh thu cận biên là đường các yếu tố đầu vào Trong hình đường cao hơn trong 2 đường thể hiện đường MRPL cho một doanh nghiệp có thị trường đầu ra cạnh tranh doanh nghiệp không có quyền lực độc quyền bán. Đường thấp hơn là đường MRPL của một doanh nghiệp độc quyền trong thị trường đầu ra của họ. Trong một thị trường các yếu tố cạnh tranh, trong đó nhà sản xuất các sản phẩm đầu ra là người đưa ra quyết định về giá mua đầu vào. Cầu về các đầu vào đó có được từ đường sản phẩm doanh thu biên. Đường MRPL dốc xuống bởi vì sản phẩm biên theo lao động giảm xuống khi số giờ lao động tăng thêm. Khi nhà sản xuất sản phẩm đầu ra có quyền lực độc quyền, đường cầu đối với các yếu tố đầu vào sẽ được tạo nên từ đường MRPL sẽ ở vị trí thấp hơn đường này trong điều kiện thị trường đầu ra cạnh tranh do cả hai đường sản phẩm biên theo lao động MPL cũng như doanh thu biên MPL đều giảm. 204 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Cầu đầu vào khi có một số đầu vào thay đổi Khi doanh nghiệp lựa chọn mua một lúc từ hai cho tới nhiều đầu vào thay đổi, việc thuê hay mua đó trở nên khó khăn hơn vì thay đổi về giá của một đầu vào sẽ thay đổi cầu về đầu vào khác. Ví dụ Giả sử cả lao động và dây chuyền lắp ráp đều là những đầu vào thay đổi nhằm sản xuất trang thiết bị nông nghiệp, và chúng ta mong muốn xác định đường cầu về lao động của doanh nghiệp. Khi tiền lương giảm, cầu về lao động tăng thậm chí cả khi đầu tư của doanh nghiệp vào máy móc không đổi. Ta thấy, khi lao động rẻ hơn, chi phí biên cho sản xuất các trang thiết bị nông nghiệp sẽ giảm xuống sẽ giúp doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận hơn khi tăng sản xuất các sản phẩm này. Kết quả là doanh nghiệp có thể muốn đầu tư vào máy móc để mở rộng năng lực sản xuất. Mở rộng sử dụng máy móc sẽ khiến đường sản phẩm doanh thu biên theo lao động dịch sang phải và làm gia tăng lượng cầu lao động. Hình thể hiện điều này Giả sử, khi tiền lương là 20 nghìn đồng/giờ/người, doanh nghiệp thuê 100 giờ lao động, tại điểm A trên đường MRPL1. Điều gì sẽ xảy ra khi giá lao động giảm xuống còn 15 nghìn đồng/giờ/người? Doanh nghiệp sẽ muốn thuê nhiều lao động hơn, cho sản phẩm doanh thu biên theo lao động cao hơn lương trả cho người lao động, nên. Ta biết, MRPL1 mô tả lượng cầu đối với lao động khi sử dụng máy móc đã cố định. Lương thấp hơn sẽ khuyến khích doanh nghiệp thuê nhiều máy móc để sử dụng thêm nhiều lao động. Bởi vì, có nhiều máy móc, sản phẩm biên theo lao động sẽ tăng và đường sản phẩm doanh thu biên sẽ dịch chuyển sang phải tới MRPL2. Do vậy, khi lương giảm, doanh nghiệp sẽ sử dụng 140 giờ lao động thể hiện tại điểm C, hơn ở điểm B chỉ sử dụng 120 giờ lao động nếu không thuê thêm máy móc thiết bị. Vì vậy, đường cầu cho lao động thường sẽ co giãn hơn các đường sản phẩm biên theo lao động ở đây coi như không có thay đổi trong lượng máy móc. Do đó, độ co giãn của cầu theo lao động lớn hơn khi đầu vào vốn thay đổi trong dài hạn bởi vì yếu tố vốn có thể thay thế cho lao động trong quá trình sản xuất dài hạn. Hình Đường cầu doanh nghiệp theo lao động với vốn thay đổi đầu vào Trên hình khi 2 hay nhiều đầu vào thay đổi, cầu của một doanh nghiệp về một đầu vào phụ thuộc vào sản phẩm doanh thu biên của cả hai đầu vào. Khi lương là 20 nghìn đồng thì, A là một điểm trên đường cầu về lao động của doanh nghiệp. Khi tiền lương 205 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào giảm xuống còn 15 nghìn đồng, thì đường MRP dịch chuyển từ MRPL1 tới MRPL2, làm cho xuất hiện một điểm mới C trên đường cầu theo lao động của doanh nghiệp. Do đó A và C nằm trên đường cầu lao động, nhưng B thì không. Cầu thị trường về đầu vào Khi tập hợp các đường cầu riêng lẻ của khách hàng lại ta sẽ có đường cầu thị trường đối với một sản phẩm trên thị trường sản phẩm đó. Tương tự một yếu tố đầu vào như lao động lành nghề, sẽ là cầu cho những doanh nghiệp trong nhiều ngành khác nhau. • Để có được đường tổng cầu thị trường về lao động, chúng ta phải xác định • Đường cầu của từng ngành với lao động, sau đó thêm các đường cầu của các ngành theo chiều ngang. Bước hai không phức tạp lắm. Những đường cầu ngành về lao động cộng theo chiều ngang sẽ được một đường cầu thị trường về lao động. Do đó, ta tập trung vào bước một, bước khó hơn. Bước đầu tiên xác định đường cầu ngành mà ở đó mức sản lượng đầu ra do các hãng sản xuất và giá sản xuất của các hãng đồng thời thay đổi khi giá của các đầu vào sản xuất thay đổi. Không khó xác định cầu thị trường khi chỉ có một nhà sản xuất sản phẩm duy nhất. Vì khi đó, đường sản phẩm doanh thu biên là đường cầu ngành về đầu vào. Tuy nhiên, với rất nhiều doanh nghiệp, phân tích sẽ phức tạp hơn do sự tác động qua lại giữa các doanh nghiệp. Đường cầu về lao động khi các thị trường đầu ra là cạnh tranh hoàn hảo thể hiện rất rõ điều này. Trong trường hợp này, sản phẩm doanh thu biên theo lao động được thể hiện ở hình là MRP = MP × P. Ví dụ Giả định rằng tiền lương của lao động là 15 nghìn đồng/giờ/người và doanh nghiệp cần 100 giờ/người lao động. Giờ giả định lương sẽ giảm xuống 10 nghìn đồng/giờ/người lao động. Nếu không có doanh nghiệp khác thuê lao động ở mức giá thấp hơn, thì doanh nghiệp của chúng ta sẽ thuê 150 giờ công. Nhưng nếu giá lao động giảm xuống ở tất cả doanh nghiệp trong thị trường, thì ngành sẽ thuê nhiều lao động hơn. Điều này sẽ dẫn tới nhiều sản lượng đầu ra của ngành tăng lên và sẽ có sự dịch chuyển sang phải của đường cung của ngành. Sự chuyển dịch của cung sẽ giảm mức giá thị trường khi bán sản phẩm. 0 0 A B Hình Đường cầu ngành theo lao động Trên hình đường cầu theo lao động của một doanh nghiệp cạnh tranh, MRPL1 ở hình a, giả định rằng giá đầu ra đã cho không đổi. Nhưng khi tiền lương giảm từ 15 206 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào nghìn đồng tới 10 nghìn đồng/giờ lao động, giá bán đầu ra sản xuất cũng giảm do nhiều người cũng tăng sản lượng làm cho giá thị trường giảm xuống và đường cầu về lao động doanh nghiệp dịch chuyển xuống tới đường MRPL2. Kết quả là đường cầu ngành như trong hình b sẽ ít co giãn hơn đường cầu có được nếu giá đầu ra được giả định không đổi. Trên hình khi giá đầu ra giảm xuống, đường sản phẩm doanh thu biên dịch chuyển sang trái từ MRPL1 tới MRPL2. Kết quả cung về lao động của doanh nghiệp nhỏ hơn so với kỳ vọng ban đầu 120 giờ lao động với 150 giờ lao động. Vì thế, cầu về lao động của ngành sẽ thấp hơn so với tình huống của giá đầu ra không đổi. Hình thể hiện điều này. Đường thoải hơn thể hiện tổng theo hàng ngang của cầu theo lao động của từng doanh nghiệp có được nếu giá đầu ra không đổi khi tiền lương giảm. Đường dốc hơn là đường cầu ngành theo lao động. Đường này ứng với mức giá đầu ra giảm khi tất cả các doanh nghiệp mở rộng sản xuất tương ứng với mức lương thấp hơn. Cầu doanh nghiệp ngành về lao động là L0 giờ lao động khi lương là 15 nghìn đồng/giờ. Khi lương giảm xuống 10 nghìn đồng/giờ, đường cầu ngành sẽ tăng tới L1, mức tăng thấp hơn L2 là mức sẽ xuất hiện nếu giá đầu ra cố định. Khi kết hợp các đường cầu của doanh nghiệp trong ngành tạo nên đường cầu thị trường về lao động. Những nhân tố ảnh hưởng cầu về đầu vào Qua trên ta thấy những nhân tố sau đây sẽ ảnh hưởng đến cầu đầu vào • Giá của đầu ra và lượng hàng hoá đầu ra bán được của doanh nghiệp và của ngành Thị trường đầu ra là nhân tố quan trọng nhất tạo nên cầu của các doanh nghiệp đó về đầu vào. • Giá của các đầu vào khác và mức độ thay thế hoặc bổ sung của các đầu vào đó đối với đầu vào đang phân tích. • Giá của chính đầu vào mà ta đang phân tích. • Số lượng của các doanh nghiệp kinh doanh trong ngành. Cung thị trường về các yếu tố đầu vào Cung đầu vào cho một hãng Khi thị trường một yếu tố đầu vào là cạnh tranh hoàn hảo, một doanh nghiệp có thể mua cùng một lượng đầu vào như doanh nghiệp mong muốn ở một mức giá cố định. Hình Cung đầu vào trong một thị trường đầu vào cạnh tranh của một doanh nghiệp 207 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Ví dụ Đường cung đầu vào co giãn hoàn toàn như ở hình Trên hình một doanh nghiệp đang mua vải ở mức giá 10 nghìn đồng/yard để may quần áo. Bởi vì doanh nghiệp chỉ là một khách hàng nhỏ trong thị trường vải, nên doanh nghiệp có thể mua tất cả những gì mà doanh nghiệp cần mà không ảnh hưởng tới giá. Đường cung AE cho doanh nghiệp mua trên hình được gọi là đường phí tổn bình quân vì nó thể hiện mức phí tổn mà doanh nghiệp phải bỏ ra với một đơn vị đầu vào mà doanh nghiệp mua. Còn khái niệm đường phí tổn biên ME, thể hiện phí tổn của doanh nghiệp khi mua thêm một đơn vị đầu vào. Khi thị trường các yếu tố là cạnh tranh, đường phí tổn bình quân và đường phí tổn biên là hai đường đồng nhất nằm ngang là đường cung đầu vào nằm ngang cho một doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường đầu ra. Trong hình ở trên, lượng cầu và lượng cung vải của ngành được cân bằng ở mức giá 10 nghìn đồng/m. Trong hình b, doanh nghiệp có một đường phí tổn biên nằm ngang ở mức giá là 10 nghìn đồng/m vải, và chọn mua 50m. Hình thể hiện lượng vải công ty mua tại giao điểm giữa hai đường phí tổn biên và sản phẩm doanh thu biên. Trên thị trường đầu vào cạnh tranh, một doanh nghiệp có thể mua một lượng các đầu vào mà doanh nghiệp muốn nhưng lại không ảnh hưởng tới giá. Do đó, doanh nghiệp sẽ có một đường cung co giãn hoàn toàn cho những đầu vào của mình. Kết quả là số lượng đầu vào mà doanh nghiệp mua được xác định bởi giao điểm giữa hai đường cung và cầu đầu vào. Vậy doanh nghiệp trong thị trường cạnh tranh đầu vào nên mua bao nhiêu lượng đầu vào? Khi đường sản phẩm doanh thu biên nằm trên đường phí tổn biên, thì lợi nhuận có thể tăng khi mua nhiều đầu vào hơn vì doanh thu từ một sản phẩm tăng thêm MRP cao hơn phí tổn biên ME cho đầu vào đó. Tuy nhiên, khi đường doanh thu sản phẩm biên nằm dưới đường phí tổn biên, thì sinh lợi ít hơn là chi phí gia tăng do mua đầu vào. Do đó, điểm tối đa hóa lợi nhuận khi mua đầu vào trên một thị trường cạnh tranh là sản phẩm doanh thu biên phải bằng phí tổn biên, tức là ME = MRP. Khi xem xét trường hợp thị trường đầu vào cạnh tranh, ta thấy doanh nghiệp mua các đầu vào, như lao động, tại điểm mà tại đó sản phẩm doanh thu biên bằng giá của đầu vào đóví dụ tiền lương – w. Điều kiện tối đa hóa lợi nhuận là tại đó mức giá của đầu vào bằng với phí tổn biên cho đầu vào ME = w. Khi mua 50m vải, phí tổn biên sẽ là 10 nghìn đồng/m bằng với doanh thu do sản phẩm biên quần áo mang lại bằng cách tăng sử dụng vải từ quá trình sản xuất. Nếu mua ít hơn 50m vải, doanh nghiệp sẽ bỏ cơ hội kiếm thêm lợi nhuận từ việc bán quần áo. Nếu mua hơn 50m, chi phí vải sẽ cao hơn doanh thu tăng thêm từ việc bán gia tăng thêm quần áo. Cung thị trường về đầu vào Khái niệm Cung thị trường đầu vào là lượng đầu vào mà thị trường có và sẵn sàng cung ứng tại những mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định. Đường cung thị trường với một yếu tố đầu vào thường dốc lên. 208 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Cân bằng ở thị trường đầu vào Cân bằng thị trường đầu vào cạnh tranh Khái niệm Một thị trường đầu vào cạnh tranh cân bằng khi giá của đầu vào làm cân bằng lượng cầu với lượng cung đầu vào đó. Đồ thị thể hiện mức cân bằng trên thị trường lao động. Tại điểm A, mức lương cân bằng là wC, và sản lượng cân bằng là LC. Do tất cả người lao động đều biết đầy đủ thông tin, nên tất cả người lao động đều nhận mức lương đúng bằng doanh thu sản phẩm biên của lao động bất kể người lao động đó làm việc ở nơi nào. Nếu bất kỳ một lao động nào có mức lương thấp hơn sản phẩm biên của người lao động đó, doanh nghiệp khác sẽ thấy lợi và đề nghị người lao động đó một mức lương cao hơn. Nếu thị trường đầu ra là cạnh tranh hoàn hảo, đường cung cho đầu vào đo lường mức lợi nhuận mà người mua đầu vào có được khi sử dụng thêm đầu vào trong quá trình sản xuất. Mức lương cũng phản ánh chi phí cho doanh nghiệp và cho xã hội khi sử dụng thêm một đơn vị đầu vào. Như vậy, ở điểm A tại đồ thị thu nhập sản phẩm biên của một giờ lao động bằng chi phí biên của doanh nghiệp đó. Khi thị trường đầu vào và đầu ra đều là cạnh tranh hoàn hảo, nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả bởi chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí sẽ là lớn nhất. Điều kiện sử dụng các nguồn lực hiệu quả có thể mô tả ở một dạng khác Do sản phẩm doanh thu biên bằng với giá của sản phẩm nhân với sản phẩm biên theo lao động, MRPL = P × MPL. Tính hiệu quả đòi hỏi doanh thu gia tăng nhận được do doanh nghiệp thuê thêm một đơn vị đầu vào lao động bằng với doanh thu xã hội của đầu ra gia tăng do các đơn vị lao động tạo ra. P × MPL 0 0 a b Hình Cân bằng thị trường lao động trong điều kiện cạnh tranh và độc quyền đầu ra Khi thị trường đầu ra không hoàn hảo, điều kiện MRPL = P × MPL không còn giữ được nữa. Chú ý rằng ở hình thể hiện đường tạo bởi tích giữa giá với sản phẩm theo lao động biên, đường [PMPL] nằm trên đường sản phẩm doanh thu biên [MRMPL]. Điểm B có mức giá cân bằng WM và cung lao động cân bằng LM. Nhưng đường [PMPL] là giá trị mà người tiêu dùng đưa thêm giá trị đầu vào theo lao động vào quá trình sản xuất đầu ra. 209 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Do vậy, khi lượng lao động LM được thuê, chi phí biên cho doanh nghiệp WM ít hơn lợi nhuận biên cho xã hội VM. Nhà máy tối đa hóa lợi nhuận, nhưng vì sản lượng đầu ra của doanh nghiệp ít hơn mức sản lượng đầu ra hiệu quả cạnh tranh, nên lượng đầu vào doanh nghiệp sử dụng cũng ít hơn mức hiệu quả sử dụng trong điều kiện thị trường đầu ra cạnh tranh. Lợi ích ròng lợi ích xã hội sẽ tăng nếu doanh nghiệp thuê thêm nhiều đầu vào hơn và bằng cách đó, tăng được đầu ra cho xã hội. Cân bằng thị trường đầu vào độc quyền mua Trong một số thị trường yếu tố sản xuất, chỉ có một chủ thể mua các yếu tố thì sẽ có quyền lực độc quyền mua. Trong phần này, chúng ta sẽ giả định rằng thị trường đầu ra là cạnh tranh hoàn hảo và sẽ hạn chế các phân tích vào độc quyền mua thuần túy. • Phí tổn bình quân và phí tổn biên Khi một doanh nghiệp mua một yếu tố đầu vào trong một thị trường cạnh tranh, đường phí tổn bình quân và phí tổn biên là đồng nhất. Nhưng khi doanh nghiệp là một nhà độc quyền mua, đường phí tổn biên và phí tổn bình quân không giống nhau, như thể hiện ở đồ thị Đường cung yếu tố đối với nhà độc quyền mua là một đường cung thị trường. Đường này thể hiện số lượng nhà cung cấp các yếu tố đầu vào đang sẵn sàng bán khi giá các yếu tố tăng lên. Vì nhà độc quyền trả cùng một mức giá cho từng đơn vị đầu vào, đường cung sẽ là đường phí tổn bình quân. Đường phí tổn bình quân có hướng dốc lên vì khi mức giá tăng doanh nghiệp muốn bán nhiều yếu tố hơn. Với việc tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp, đường cung là đường phí tổn bình quân – đường liên quan tới quyết định bao nhiêu yếu tố cần và phải bán. Nhắc lại Đường phí tổn biên nằm trên đường phí tổn bình quân bởi vì khi doanh nghiệp tăng giá của các yếu tố cho thuê thêm một đơn vị, doanh nghiệp sẽ phải trả tất cả các đơn vị khác ở mức giá cao hơn, chứ không phải chỉ trả giá cao hơn cho đơn vị cuối cùng. 0 Hình Phí tổn bình quân và phí tổn biên Khi người mua một đầu vào có quyền lực độc quyền, đường phí tổn biên nằm trên đường phí tổn bình quân bởi vì doanh nghiệp tăng giá đầu vào thì có nhiều đầu vào 210 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào muốn và sẵn sàng được bán hơn. Số lượng đơn vị đầu vào được bán ở mức tối ưu là L*, tại giao điểm giữa đường phí tổn biên ME và sản phẩm doanh thu biên MRPL. Tại đó mức lương cân bằng là W* thấp hơn mức lương cạnh tranh WC. • Quyết định mua đầu vào của công ty độc quyền mua Câu hỏi đặt ra là doanh nghiệp nên mua bao nhiêu đầu vào? Câu trả lời là doanh nghiệp nên mua toàn bộ cho tới điểm mà phí tổn biên ME bằng sản phẩm doanh thu biên MRPL. Đồ thị thể hiện điều này trên thị trường lao động. Chúng ta có thể thấy được sự cân bằng ở đây. Chú ý rằng nhà độc quyền thuê L* đơn vị lao động tại điểm ME = MRPL. Mức lương w* là mức mà lao động được trả có được từ đường cung lao động hay còn gọi là đường phí tổn bình quân tương ứng với mức lao động L*. Như đã biết, một nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận bằng cách bán toàn bộ cho tới điểm mà tại đó giá trị biên thu được từ mua đầu vào đó cân bằng với phí tổn biên MV = ME. Đối với một doanh nghiệp độc quyền mua một yếu tố đầu vào, MV là sản phẩm doanh thu biên MRP. Do đó chúng ta có thể viết lại như sau ME = MRP. CHÚ Ý Từ đồ thị ta thấy • Nhà độc quyền thuê ít lao động hơn một doanh nghiệp hay một nhóm các doanh nghiệp không có quyền lực độc quyền mua. Trong thị trường cạnh tranh, số lao động LC sẽ được thuê bởi vì tại mức đó, lượng cầu lao động bằng với lượng cung lao động. • Doanh nghiệp độc quyền mua sẽ chỉ trả cho công nhân một mức lương w* thấp hơn mức lương wC ở thị trường cạnh tranh. Cân bằng thị trường đầu vào độc quyền bán Thị trường độc quyền bán đầu vào là thị trường mà trong đó có nhiều chủ thể mua đầu vào nhưng chỉ có một chủ thể bán đầu vào đó. Quyền lực độc quyền lại thuộc về người bán đầu vào đó. Quyền lực đó thể hiện như thế nào ta sẽ phân tích qua đồ thị sau đây. Hình Quyền lực độc quyền của người bán đầu vào người lao động 211 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Khi người bán đầu vào lao động một công đoàn lao động là một độc quyền, liên đoàn chọn điểm những điểm bán trên đường cầu lao động DL. Người bán có thể tối đa hóa số lượng lao động được thuê, tại điểm L*, bằng cách đồng ý rằng người lao động sẽ làm ở mức W*. Tuy nhiên, số lượng lao động L1 là lượng lao động tối đa hóa thu nhập mà những người được thuê được hưởng. Điểm này là giao điểm giữa đường cung lao động và doanh thu biên của lao động. Các thành viên lao động của công đoàn sẽ nhận mức lương W1. Cuối cùng, nếu công đoàn muốn tối đa hóa tổng lương trả cho công nhân, công đoàn nên lựa chọn lượng công nhân cho thuê ở mức L2 với mức lương là w2 vì tại đây doanh thu biên lao động của công đoàn MRL = 0. Như vậy, hình thể hiện đường cầu theo lao động trên một thị trường không có quyền lực độc quyền mua – là đường tạo nên từ tập hợp các sản phẩm doanh thu biên của các doanh nghiệp cạnh tranh mua lao động. Đường cung lao động mô tả số lượng thành viên công đoàn muốn cung lao động nếu công đoàn sử dụng quyền lực độc quyền bán. Khi đó, thị trường lao động cân bằng tại lượng lao động L* sẽ được thuê với mức lương W* tại điểm A trên đồ thị. Tuy nhiên, vì có quyền lực độc quyền, công đoàn có thể chọn bất kỳ mức lương và lượng lao động tương ứng để cung ứng cho thị trường. Nếu công đoàn muốn tối đa hóa số công nhân được thuê, công đoàn sẽ chọn kết quả tại A. Tuy nhiên, giả định rằng công đoàn mong muốn có được một mức lương cao hơn mức lương cạnh tranh. Khi đó, họ có thể hạn chế thành viên của mình tới mức L1 lao động. Kết quả là doanh nghiệp có thể trả lương cho công nhân ở mức W1. Họ là những người được trả lương nhiều hơn những người khác. Một chính sách về việc hạn chế các thành viên công đoàn có đáng được xem xét hay không? Câu trả lời là rất nên xem xét, nếu công đoàn mong muốn tối đa hóa tô kinh tế mà người lao động nhận được. Bằng cách hạn chế số thành viên, công đoàn sẽ hành động giống như một doanh nghiệp hạn chế đầu ra để tối đa thu nhập cho người lao động. Đồ thị gạch sẫm dưới đường cầu lao động DL, nằm trên đường cung lao động SL và nằm bên trái của đường L1, thể hiện tô kinh tế mà người lao động nhận được. Một chính sách tối đa hóa tô kinh tế có thể đem lại “lợi nhuận” cho những lao động không nằm trong công đoàn nếu họ có thể tìm được những việc không cần công đoàn. Tuy nhiên, nếu những công việc này không hợp lý, tối đa hóa tô kinh tế có thể tạo những khoảng cách khắc nghiệt giữa người có việc làm và người thất nghiệp. Một mục tiêu nữa là tối đa hóa tổng mức lương cho tất cả người lao động. Để đạt mục tiêu này, trong ví dụ ở đồ thị lượng công nhân thuê tăng từ L1 tới mức doanh thu biên của công đoàn bằng 0 L2. Tại đây, mức lương kết hợp sẽ được tối đa khi mức lương bằng w2 và lượng lao động bằng L2. Thị trường lao động và “công đoàn” Cung lao động Cung lao động Trong giới hạn 24 giờ/ngày, 7 ngày trong tuần, bạn có thể cân bằng thời gian của mình giữa thời gian lao động và thời gian dành cho nhàn rỗi. Để tối đa hóa thỏa dụng về lao động, người lao động sẽ phân bổ thời gian của mình sao cho thỏa dụng biên kỳ vọng 212 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào của đơn vị thời gian cuối cùng dành cho từng hoạt động đều đồng nhất. Do vậy, độ thỏa dụng biên kỳ vọng của giờ nghỉ ngơi cuối cùng bằng với độ thỏa dụng biên ròng kỳ vọng của giờ lao động cuối cùng. Trong trường hợp thời gian dành hết cho kiếm thêm các nguồn lực lao động, mọi người cân nhắc độ thỏa dụng biên kỳ vọng kiếm được trong tương lai nhằm đem lại một năng suất cao hơn. Tiền lương và cung lao động cá nhân Khi yếu tố đầu vào là lao động, thì xã hội vẫn muốn các doanh nghiệp tăng số lượng nhu cầu nhiều hơn trước. Khi đó, tối đa hóa thỏa dụng hơn là tối đa hóa lợi nhuận trở thành mục tiêu thực tế. Trong thảo luận dưới đây, chúng ta sẽ chỉ ra rằng đường cung thị trường lao động có hướng dốc lên, nhưng lại có một đoạn đi xuống trong hình một mức lương cao hơn sẽ có ít lao động sẵn sàng cung cấp hơn. Để hiểu vì sao một đường cung lao động lại có hình cung như vậy, cần tìm hiểu xem một người công nhân quyết định bao nhiêu giờ làm việc trong một ngày hay một tháng, một năm. Ngày được chia ra làm hai phần Số giờ lao động và số giờ nhàn rỗi. Giờ nhàn rỗi là thuật ngữ chỉ thời gian mà người lao động thực hiện các hoạt động phi công việc, bao gồm cả nghỉ ngơi, ăn và ngủ. Giả định rằng thời gian nhàn rỗi là lúc thư giãn, nhưng làm việc mang lại thu nhập cho người lao động vì họ kiếm được tiền. Chúng ta cũng giả định rằng, một người lao động có thể tuỳ lựa chọn bao nhiêu giờ trong một ngày để làm việc. Khi tiền lương tăng, số giờ lao động mà người lao động muốn cung cấp tăng lên, nhưng sau đó lại giảm xuống khi lương càng tăng thì càng nhiều cá nhân lựa chọn nghỉ ngơi hơn là làm việc. Đường hình cung của đường cung lao động xuất hiện khi hiệu ứng thu nhập do mức lương cao lớn hơn hiệu ứng thay thế. Do vậy, tiền lương đo lường mức giá mà người lao động dùng cho ngày nghỉ, điều đó có nghĩa là tiền lương là số tiền mà người lao động bỏ ra để tận hưởng thời gian nhàn rỗi. Khi tiền lương tăng, giá trị của ngày nghỉ cũng tăng. Ở đây, có hai hiệu ứng xuất hiện khi tiền lương tăng • Hiệu ứng thay thế bởi vì giá cao đối với giờ nghỉ sẽ khuyến khích người lao động thay thế công việc bằng đi nghỉ. • Hiệu ứng thu nhập xuất hiện vì khi lương cao hơn sẽ tăng thu nhập thực của người lao động. Với mức thu nhập cao hơn, người lao động có thể mua nhiều hàng hóa hơn, một trong những thứ đó là tổ chức nghỉ ngơi. Nếu có nhiều thời gian nhàn rỗi được người lao động “mua”, thì hiệu ứng thu nhập sẽ khuyến khích người lao động làm việc ít hơn. Thêm vào đó, nếu hiệu ứng thu nhập đủ lớn, người lao động sẽ làm việc ít hơn khi tiền lương tăng. Hiệu ứng thu nhập có thể rất lớn bởi vì lương là yếu tố đầu tiên quyết định mức thu nhập của hầu hết mọi người. Khi một mức lương cao hơn dẫn tới một người lao động làm việc ít giờ hơn vì hiệu ứng thu nhập cao hơn, kết quả là xuất hiện đường cung lao động dạng hình cung. 213 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào 0 Số giờ lao động/ngày Hình Đường cung dạng “hình cung” của lao động Hình thể hiện quyết định nhàn rỗi lao động dẫn tới đường cung lao động có hình cung. Trục hoành thể hiện số giờ nhàn rỗi trong ngày, trục tung là thu nhập có được từ công việc. Cung thị trường về lao động Cung thị trường về lao động là tổng toàn bộ lượng thời gian mà tất cả người lao động của một nước muốn và sẵn sàng làm việc tại những mức lương thực tế nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Cung lao động được hình thành từ đường phí tổn bình quân cho lao động tổng chi tiêu trung bình tính cho một giờ lao động bình quân mà người lao động cần để giữ cuộc sống bình thường. Như vậy, chính tiền công thực tế đo bằng lượng hàng hoá mà có thể mua bằng tiền lương sẽ ảnh hưởng đến các quyết định cung ứng lao động trên thị trường. Khác với cung cá nhân một người lao động, cung thị trường lao động có hướng dốc lên, càng nhiều giờ lao động cung ra thị trường thì đường cung thị trường thường càng dốc hơn. Do khi mức thu nhập đã cao thì dù lương tăng cao nhưng sẽ có ít người lao động muốn làm nhiều giờ hơn. Người có mức lương càng cao thì càng muốn có ít thời gian làm việc hơn nên lượng cung thị trường về lao động cho lao động giản đơn có mức lương thấp sẽ nhiều hơn là bộ phận có lương cao. Các nhân tố khác ảnh hưởng đến cung thị trường lao động Ảnh hưởng đến cung lao động có nhiều nhân tố khác nhau sau đây • Chính sách của nhà nước về thời gian lao động, ngày nghỉ, mức lương tối thiểu, hợp tác quốc tế, • Đặc tính ngành nghề Ngành có thể thuê công nhân chung chung thì mức lương sẽ có mức lương thị trường đầu vào cạnh tranh. Ngược lại ngành càng đặc thù, rủi ro nghề nghiệp, độc hại, làm ca tối, chuyên môn cao, mức tiền lương của ngành sẽ càng chênh lệch lớn với thị trường lao động nói chung. 214 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào • Sự phát triển hoặc suy thoái của các ngành sản xuất kinh doanh và các ngành sản xuất chung của nền kinh tế sẽ làm cho thị trường lao động thay đổi. Kinh tế càng tăng trưởng, mức lương sẽ tăng, thất nghiệp giảm và ngược lại. • Mức độ thay thế của các đầu vào khác đối với lao động như máy móc, công nghệ thông tin, • Nhân tố phi kinh tế khác như văn hoá, tôn giáo, mức tăng dân số, phụ nữ không tham gia lao động xã hội, một số ngành không sử dụng lao động nam hay nữ, Chúng ta có thể tìm thêm nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới thị trường lao động. Các nghiệp đoàn lao động Các loại nghiệp đoàn lao động Công đoàn lao động Một nghiệp đoàn lao động là một nhóm người lao động cùng nhau tham gia để cải thiện việc làm của mình. Giáo trình này chủ yếu tìm hiểu về một số loại nghiệp đoàn của Mỹ. Công đoàn ở Việt Nam rất khác so với cấu trúc công đoàn của Mỹ và các nước tư bản phương Tây. Các công đoàn này giống như những doanh nghiệp nên họ cũng có những hành vi tương ứng trên thị trường lao động. Nghiệp đoàn thứ nhất được đề cập là nghiệp đoàn thợ thủ công. Nghiệp đoàn này bao gồm những thợ thủ công ở một số ngành nghề như thợ đốn củi, người làm giày hay thợ in. Nghiệp đoàn thợ thủ công tầm cỡ quốc gia đầu tiên ở nước Mỹ là AFL Liên đoàn lao động Mỹ thành lập năm 1886. Các nghiệp đoàn này là tiếng nói của người lao động. Điều luật Clayton, năm 1914 cho phép các nghiệp đoàn lao động được miễn áp dụng luật chống Tơ-rớt, điều đó có nghĩa là các nghiệp đoàn ở các công ty cạnh tranh có thể gây áp lực về mặt luật pháp lên việc tăng lương cho công nhân. Các nghiệp đoàn cũng được miễn thuế. Các thành viên của nghiệp đoàn hoạt động rất tích cực trong chiến tranh thế giới thứ nhất, nhưng bị ngừng lại vào giai đoạn 1920 – 1933 khi Chính phủ rút lại các điều khoản ủng hộ công đoàn. Năm 1935, ở Mỹ thành lập Hội đồng các tổ chức công nghiệp CIO nhằm phục vụ cho các tổ chức công đoàn của các ngành công nghiệp sản xuất hàng loạt, như ô tô và sắt thép. CIO bao gồm tất cả các nghiệp đoàn của tất cả lao động thuộc một ngành công nghiệp cụ thể. Các nghiệp đoàn công nghiệp này bao gồm các lao động lành nghề, bán lành nghề và mới vào làm việc ở một ngành cụ thể. Sự “đấu tranh” tập thể của các hiệp hội lao động • Thương lượng tập thể Thương lượng tập thể là quá trình mà đại diện của công đoàn và nhà quản lý đàm phán về một hợp đồng hai bên cùng thỏa thuận về lương, lợi ích người làm thuê, và các điều kiện làm việc khác. Thỏa thuận sẽ được đưa ra, và các đại diện của nghiệp đoàn sẽ trình bày cho giới chủ về các điều kiện này nhằm gây áp lực buộc họ chấp thuận. Nếu thỏa thuận bị loại bỏ, nghiệp đoàn có thể đình công hoặc đàm phán lại. 215 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào • Hòa giải và trọng tài Nếu giữa hiệp hội lao động và giới chủ rơi vào tình trạng đàm phán không có kết quả, các nhân viên Chính phủ sẽ yêu cầu một nhà hòa giải độc lập tiếp cận. Một nhà hòa giải là một nhà quan sát công bằng sẽ lắng nghe nguyện vọng từ hai bên và sau đó sẽ đề xuất các bên có thể làm gì để giải quyết tình trạng bế tắc này theo một hướng khác. Nếu đề xuất hợp lý sẽ mang lại cho các bên một hợp đồng thoả thuận cả hai bên cùng chấp trường hợp hai bên rơi vào tình trạng nguy cấp, các cuộc đình công mang tính chất bạo động xảy ra, thì cảnh sát hay lính cứu hỏa sẽ can thiệp. Một bên thứ ba đứng ra quyết định hợp đồng, được gọi là trọng tài bắt buộc. Trọng tài như một trung gian bắt hai bên phải tuân thủ quyết định của mình. Nếu cả hai hướng xử lý trên vẫn không đem lại kết quả, đình công sẽ diễn ra. • Đình công Một trong những quyền lực của công đoàn trong thương lượng tập thể đó chính là đình công. Đình công là hình thức nghiệp đoàn thông qua việc tất cả các thành viên trong nghiệp đoàn đó sẽ không đi làm cho nhà máy nữa. Mục đích của đình công là ngừng sản xuất, ép nhà máy phải chấp nhận các yêu sách của nghiệp đoàn. Nhưng đình công cũng tạo ra những chi phí nhất định cho các thành viên của nghiệp đoàn, đặc biệt là đối với những người phải từ bỏ được trả lương trong suốt cuộc đình công và chịu rủi ro mất việc. Quỹ công đoàn và các nguồn lực khác như lương thất nghiệp của một số bang ở Mỹ, có thể được cung cấp trong quá trình đình công, nhưng đình công sẽ làm giảm thu nhập tức thời của họ. Những xu thế liên minh lao động hiện nay trên thế giới Trên thế giới hiện nay, ngoài liên minh “công đoàn” như trên còn có nhiều hình thức khác • Liên kết hiệp hội nghề nghiệp phát triển rất mạnh ở các nước và cả ở Việt Nam. • Liên kết người lao động cùng giới; cùng độ tuổi... • Liên kết diễn đàn trao đổi kinh nghiệm và thông tin nghề nghiệp... Vốn, lãi suất và tài chính doanh nghiệp Vai trò của thời gian trong sản xuất và tiêu dùng Thời gian đóng vai trò quan trọng trong cả sản xuất và tiêu dùng. Trong phần này, trước hết chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng của thời gian tới quyết định sản xuất và chứng minh tại sao doanh nghiệp lại sẵn sàng trả lãi tiết kiệm cho hộ gia đình. Sau đó chúng ta sẽ nghiên cứu các vấn đề về đầu tư tối ưu cũng như các thị trường quỹ tín dụng cho vay. 216 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào Sản xuất, tiết kiệm và thời gian Giả định có một người nông dân trong một nền kinh tế giản đơn. Người này bị cách ly với bất kỳ người hàng xóm hoặc bất kỳ các thị trường khác và chỉ có thể canh tác trên mảnh đất của mình và sử dụng một que củi. Trong khi vụ mùa chưa thu hoạch thì không có bất kỳ thu nhập nào. Như vậy, khi đang sản xuất, anh ta phải sử dụng thức ăn tiết kiệm từ đợt canh tác trước đó để tồn tại. Với thời gian sản xuất dài hơn, cần tiết kiệm nhiều hơn. Như vậy, qua đây có thể thấy rằng sản xuất không thể xuất hiện nếu không có giai đoạn tiết kiệm. Giả sử với nguồn lực hiện tại, bao gồm đất, lao động, hạt gống, phân bón và một số que củi, người này trồng được khoảng 200 giạ lúa/năm. Chẳng bao lâu sau anh ta nhận ra với một cái cày, một loại hàng hóa hay vốn được đầu tư, có thể tăng được năng suất hơn trước. Có thể nói từ lúc có cái cày, người này có thể làm được 200 giạ từ chiếc cày dễ dàng hơn rất nhiều so với que củi. Như vậy, chi phí cơ hội cho chiếc cày là 200 giạ. Câu hỏi đặt ra là nếu mua chiếc cày thì ảnh hưởng sẽ là gì? Kết quả là phải dừng sản xuất vì đầu tư 200 giạ đúng ra phải dùng để tiết kiệm để ăn trong quá trình sản xuất nay lại không có. Người nông dân chỉ có thể tiếp tục sản xuất khi sản lượng tạo ra lớn hơn trước. Vậy nên đầu tư thời gian vào chiếc cày này như thế nào? Câu trả lời phụ thuộc vào chi phí và lợi nhuận từ chiếc cày. Ta biết rằng chi phí cơ hội của chiếc cày là 200 giạ. Lợi nhuận phụ thuộc từ chiếc cày sẽ tăng sản lượng mùa màng lên bao nhiêu và thời gian sản xuất cho tới đơn vị cuối cùng là bao lâu? Giả định rằng một chiếc máy cày tăng sản lượng hàng năm là 50 giạ. Để ra quyết định đầu tư, ta cần so sánh giá trị hiện tại với lợi nhuận tương lai. Giả sử quyết định đầu tư 50 giạ hàng năm thay vì hy sinh toàn bộ số giạ trong 1 năm là 200 giạ để đổi lấy một chiếc cày. Cách đầu tư và sản xuất như vừa nói ở trên được gọi là cách sản xuất gián tiếp. Tức là để vừa đầu tư và sản xuất, người sản xuất cần tiết kiệm một lượng nhất định trong lúc đang sản xuất để dành cho việc đầu tư tương lai. Việc đầu tư tương lai không phải được đầu tư trong một lần mà đầu tư bằng cách tích lũy dần để sau một thời gian nhất định mới đủ tiền mua hàng hóa cần thiết cho quá trình sản xuất. Tiêu dùng, tiết kiệm và thời gian Nếu bạn là một người hâm mộ Fan Harry Porter chắc hẳn bạn sẽ rất háo hức khi biết tin Harry Porter 7 sắp ra. Bạn sẵn sàng đứng đợi cả ngày theo dòng người để mua được quyển sách. Lần đầu tiên được cầm quyển sách bạn sẽ rất thích thú hơn khi sau đó vài tháng mới mua quyển sách đó hoặc đợi một bản rẻ hơn. Tương tự như vậy, khi ra một bộ phim, mọi người thường sẵn sàng bỏ tiền để là người đầu tiên xem phim đó trên rạp hơn là sau vài tháng nữa mua đĩa DVD về nhà xem phim. Tất cả các hàng hóa khác mang tính thời gian đều như vậy. Những ví dụ này nói lên điều gì? Tất cả những ví dụ trên chứng minh một điều là người tiêu dùng đánh giá hàng hóa hay những tiêu dùng trong hiện tại có giá trị hơn, sẵn sàng chi trả hơn là những tiêu dùng 217 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào trong tương lai. Người tiêu dùng luôn có xu thế như vậy, và họ không muốn chờ đợi quá lâu một hàng hóa nào đó. Sự thiếu kiên nhẫn là một trong các lý do giải thích vì sao lại có hiện tượng này. Chính vì thế về quan điểm với người tiêu dùng, các hàng hóa và tiêu dùng hiện tại luôn được đánh giá cao hơn các hàng hóa và tiêu dùng trong tương lai. Do tiêu dùng hiện tại có giá trị hơn tiêu dùng trong tương lai, nên các hộ gia đình phải được “thưởng” với các tiêu dùng trì hoãn – người tiết kiệm phải được “thưởng”. Tiết kiệm bằng thu nhập trừ đi tiêu dùng. Do đó bằng cách tiết kiệm một lượng nhất định trong thu nhập như gửi ngân hàng chẳng hạn, các hộ gia đình từ bỏ tiêu dùng hiện tại để có khả năng tiêu dùng tốt hơn trong tương lai. Lãi suất tiết kiệm là mức lãi suất hàng năm, dưới dạng % của số tiền gửi tiết kiệm. Ví dụ Với lãi suất là 5%, số tiền bạn tiết kiệm được là 5 nghìn đồng/năm khi gửi 100 nghìn đồng/năm. Đầu tư tối ưu Trong nền kinh tế thị trường, người sản xuất hoàn toàn có thể mua tài sản sản xuất bằng các quỹ khác nhau. Quay trở lại ví dụ về nông nghiệp phía trên, giả định rằng người nông dân muốn mua một số trang thiết bị nông sản. Bảng thể hiện các giá trị đầu tư và các giá trị biên của vốn đầu tư. Cột 1, thể hiện các trang thiết bị nông nghiệp mong muốn đầu tư. Cột 2 là tổng sản lượng mà mỗi một trang thiết bị tạo ra. Cột 3 là sản phẩm biên. Cột 4 là sản phẩm doanh thu biên. Cột 5 là chi phí nguồn lực biên. Cột cuối cùng là tỉ lệ lợi tức biên. Với việc không có thiết bị nào, người này chỉ có thể thu được 200 giạ/năm. Anh ta cho rằng với một máy kéo làm đất bạn có thể tăng sản lượng lên tới giạ. Do vậy sản phẩm biên của máy kéo này là sản phẩm. Việc đưa thêm một máy gặt đập liên hợp vào sẽ giúp tổng sản lượng tăng lên nhưng sản phẩm biên giảm xuống chỉ còn 800 giạ. Chú ý rằng trong ví dụ này, tỉ lệ biên giảm dần được áp dụng với vốn khá triệt để. Ta thấy rằng sản phẩm biên tiếp tục giảm xuống khi thêm nhiều vốn hơn, cho tới khi sản phẩm biên chỉ còn bằng 0 khi thêm thiết bị khoan và làm tơi đất. Bảng Tỉ lệ lợi tức biên trong đầu tư các trang thiết bị nông nghiệp 1 2 3 4 5 6 Sản phẩm Tỉ lệ lợi tức Tổng sản Chi phí nguồn Trang thiết bị nông Sản phẩm doanh thu biên biên phẩm lực biên nghiệp biên Giạ 4 = 3 x 4 6 = 4/5 Giạ nghìn đồng nghìn đồng % Không có 200 - - - - Máy kéo làm đất 40% Máy gặt đập liên hợp 800 32% Người tưới 600 24% Bừa 400 16% Thiết bị phun 200 800 8% Thiết bị khoan và làm 0 0 0% tơi đất Giả sử sản phẩm được bán trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Nhờ vậy có thể bán ở mọi mức giá thị trường tại mức giá 4 nghìn đồng/Giạ. Mức giá này nhân với sản 218 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào phẩm biên cho ta giá trị của sản phẩm doanh thu biên. Để đơn giản hóa, giả sử rằng chi phí nguồn lực biên là nghìn đồng. Các trang thiết bị này sẽ tăng doanh thu không chỉ trong năm thứ nhất mà còn trong các năm sau đó trong tương lai. Giải pháp tối ưu đầu tư đòi hỏi tính tới thời gian tài khóa. Bởi vì ở đây tất cả các đầu tư được tính trong cùng một thời gian. Không thể cân bằng một cách giản đơn giá trị nguồn lực biên với sản phẩm doanh thu biên vì chi phí biên là một phí tổn trong năm nay, nhưng trái lại sản phẩm biên lại là một mức sản lượng hàng năm và cho các năm sau. Sự khác biệt về thời gian chính là yếu tố cản trở. Khó khăn này được thị trường khắc phục bằng lãi suất. Câu hỏi là lãi suất cần quyết định ở mức nào? Nhiệm vụ đầu tiên là tính xem tỉ lệ lợi tức biên có được hàng năm từ việc đầu tư vào máy móc của nông trang. Tỉ lệ lợi tức biên trong đầu tư là sản phẩm doanh thu biên của vốn, hay là một tỉ lệ % thu nhập của chi phí nguồn lực biên. Ví dụ Sản phẩm doanh thu biên của máy kéo là 4000 nghìn đồng/năm trong khi chi phí nguồn lực biên là nghìn đồng. Như vậy, tỉ lệ lợi tức biên sẽ là nghìn đồng/ nghìn đồng, hay 40%/năm. Do vậy, vụ đầu tư này mang lại tỉ lệ lợi tức biên hàng năm là 40% ghi ở cột 6. Tương tự như vậy với các loại máy móc khác. Với tỉ lệ lợi tức biên, người này nên đầu tư bao nhiêu để có thể tối đa hóa lợi nhuận? Giả định có thể vay được tiền và trả với lãi suất thị trường. Anh ta sẽ mua nhiều tài sản cho sản xuất miễn là tỉ lệ lợi tức biên cao hơn lãi suất thị trường và dừng việc tiếp tục đầu tư khi mà tỉ lệ lợi tức biên thấp hơn lãi suất trên thị trường. Như vậy, tối ưu hóa đầu tư chỉ xảy ra khi tiếp tục tăng vốn đầu tư cho đến khi tỉ lệ lợi tức biên của việc đầu tư bằng mức lãi suất trên thị trường. Tỉ lệ lợi tức biên là lợi nhuận biên của đầu tư, và lãi suất thị trường là chi phí biên, do vậy mới có thể tối đa hóa lợi nhuận của việc đầu tư khi lợi nhuận biên bằng chi phí biên. Tại sao? Vì tỉ lệ lợi tức biên nói lên khả năng sinh lãi của kế hoạch đầu tư trên từng đồng vốn đầu tư. Nếu tỉ lệ này cao hơn lãi suất cho vay thị trường thì khi đầu tư thêm vốn vẫn có lãi với từng đơn vị đầu tư. Khi tỉ lệ này thấp hơn lãi suất thị trường thì có nghĩa là với mỗi đơn vị vốn đầu tư thêm sẽ thu lại ít hơn số tiền phải trả lãi trên một đơn vị vốn đầu tư, tức là nhà đầu tư bị lỗ nên họ sẽ dừng lại khi mà tỉ lệ lợi tức biên bằng lãi suất thị trường. Thị trường các quỹ cho vay tín dụng Ta đã sớm biết tại sao những nhà sản xuất luôn sẵn sàng trả lãi để vay vốn vì tiền gián tiếp cung cấp một trong các nguồn lực cần thiết cho một quá trình sản xuất. Nguyên lý trình bày trong ví dụ về đầu tư trong sản xuất nông nghiệp trên có thể áp dụng cho tất cả các loại sản xuất khác. Những người có nhu cầu chính về vay vốn là các công ty. Họ vay vốn ngân hàng hay thuê các loại vốn vật chất, như máy móc, cần cẩu, tòa nhà, hoặc vốn về trí tuệ như bản quyền, thương hiệu. Bất kỳ lúc nào, một doanh nghiệp luôn có các cơ hội khác nhau. Doanh nghiệp sẽ phải tự đánh giá và xếp hạng các cơ hội của mình từ cao xuống thấp, dựa trên tỉ lệ lợi tức biên kỳ vọng. Doanh nghiệp tăng đầu tư của mình cho tới khi tỉ lệ lợi tức biên kỳ vọng bằng với lãi suất thị trường. Với các đầu vào khác được giữ nguyên, đường cầu đầu tư cũng có dạng đi xuống. Nhưng không chỉ doanh nghiệp có cầu vay vốn, mà các hộ gia đình cũng có 219 Bài 6 Thị trường các yếu tố đầu vào nhu cầu vay. Vì họ đánh giá tiêu dùng hiện tại cao hơn tiêu dùng trong tương lai, họ sẵn sàng trả nhiều hơn để được tiêu dùng trong hiện tại. Chính vì thế, một số người tiêu dùng sẵn sàng đi vay phục vụ cho nhu cầu của họ. Các khoản trả góp nhà, nợ mua ô tô hay thẻ trả trước, và các khoản nợ học phí đều là những ví dụ về nhu cầu vay nợ của hộ gia đình. Đường cầu hộ gia đình về vay vốn cũng giống như đường cầu của doanh nghiệp là có hướng đi xuống. Các ngân hàng sẵn sàng trả lãi cho tiết kiệm của người tiêu dùng bởi vì họ có thể dùng tiền tiết kiệm cho những người khác cần vốn vay. Ngân hàng đóng vai trò như một trung gian tài chính trên thị trường tín dụng. Thị trường tín dụng mang những người tiết kiệm hay còn gọi là những người cung cấp vốn và những người muốn vay nợ, hay những người cần vốn lại với nhau để xác định lãi suất của thị trường. Lãi suất cao hơn sẽ thu hút nhiều người cung cấp vốn hơn. Khi có nhiều người tiết kiệm hơn, lượng quỹ cho vay sẽ tăng lên. Đường cung của quỹ cho vay thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa lãi suất thị trường với lượng tiết kiệm cung hình Với nền kinh tế, nếu số lượng các nguồn lực khác và công nghệ không đổi, năng suất biên giảm là nguyên nhân chính dẫn tới đường tỉ lệ lợi tức biên giảm dần, hay là đường cầu với đầu tư có hướng đi xuống. Đường cầu về vay vốn tạo thành từ tỉ lệ lợi tức biên kỳ vọng cho một đồng vốn vay khi lãi suất thị trường thay đổi. Mỗi một công ty có một đường cầu vay vốn đi xuống, phản ánh mức lợi tức biên giảm dần trong đầu tư. Với những tính chất đó, cầu về vay vốn của công ty được tổng hợp theo hàng ngang thành tổng cầu về nguồn vay vốn cho tất cả các công ty trong nền kinh tế và thể hiện bằng đường D trong hình D1 Hình Thị trường các nguồn vốn vay Kết hợp 2 đường cầu và cung chúng ta có thị trường cho vay, và có thể xác định được lãi suất thị trường. Ở lãi suất cân bằng là 8%, lượng tiền cho vay hàng năm sẽ là 100 tỉ VNĐ. Bất kỳ một sự thay đổi nào về cung và cầu đều mang lại sự thay đổi về điểm cân bằng. Ví dụ khi có một sự tăng trưởng về kỹ thuật sẽ làm tăng năng suất của vốn và sẽ làm tăng tỉ lệ lợi tức biên do vậy làm dịch chuyển đường cầu vay vốn, tức là cầu dịch chuyển từ D tới D1. Như vậy, điểm cân bằng mới sẽ có lãi suất là 9% tương đương với mức cho vay 115 tỉ VNĐ. 220
Đẩy mạnh hoạt động của các chi nhánh nước ngoài Bất chấp tình hình kinh tế hậu Covid-19 còn nhiều khó khăn, phức tạp, để mở rộng doanh thu và đạt được mục tiêu đã đề ra cho giai đoạn 2022 - 2026, Vinamilk tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào các chi nhánh nước ngoài như Driftwood Mỹ, Lao-Jagro Development Lào, Angkormilk Campuchia và công ty liên doanh Del Monte - Vinamilk Philippines. Driftwood trở thành công ty con của Vinamilk vào tháng 12/2013. Đến tháng 5/2016, Vinamilk nâng tỷ lệ sở hữu tại công ty này lên 100%. Driftwood là một trong những nhà sản xuất sữa lâu đời tại Nam California Mỹ với danh mục sản phẩm gồm sữa tươi, sữa chua, kem, nước trái cây. Khách hàng của công ty bao gồm các trường học, nhà hàng, khách sạn, nhà phân phối... tại khu vực Nam California. Năm 2022, Driftwood ghi nhận doanh thu tăng trưởng hai chữ số, đóng góp tích cực vào kết quả doanh thu hợp nhất của Tập đoàn. Driftwood là thương vụ đầu tư ra nước ngoài thứ 2 của Vinamilk Sau Driftwood, tháng 1/2014, Angkormilk - công ty con 100% vốn của Vinamilk được trao giấy phép đầu tư xây dựng nhà máy sữa tại Thủ đô Phnom Penh. Hai năm sau đó, Vinamilk và Angkormilk đã khánh thành nhà máy với các tiêu chuẩn quốc tế hiện đại nhất về công nghệ, môi trường và an toàn thực phẩm. Đây cũng là nhà máy sản xuất sữa đầu tiên tại Campuchia với tổng diện tích gần 3 ha, vốn đầu tư ban đầu 23 triệu USD, công suất thiết kế 59 triệu lít sữa tươi tiệt trùng/năm, 144 triệu đơn vị sản phẩm sữa chua, sữa đặc/năm. Hàng năm, nhà máy sản xuất ra thị trường khoảng 50 triệu lít sữa các loại, tạo công ăn việc làm cho hơn 500 người lao động tại Campuchia. Tháng 11/2022, Angkormilk thông báo sẽ tăng tổng vốn đầu tư cho các dự án tại Campuchia lên 42 triệu USD. Theo đó, Vinamilk - Angkormilk sẽ đầu tư trang trại chăn nuôi bò sữa theo công nghệ tiên tiến của thế giới, hướng đến mục tiêu cho sữa trong 2 đến 3 năm tới, với sản lượng sữa tươi nguyên liệu đạt trên tấn/năm. Đây sẽ là trang trại điển hình cho ngành chăn nuôi bò sữa công nghệ cao tại vương quốc Campuchia. Công ty cũng đang lên kế hoạch mở rộng diện tích nhà xưởng tại nhà máy Angkormilk, nâng công suất sản xuất lên 90 triệu lít các loại mỗi năm, nhằm đáp ứng nhu cầu về sữa ngày càng tăng của thị trường Campuchia. Đối với Lao-Jagro, Vinamilk chính thức trở thành công ty mẹ từ tháng 7/2018 và tạo ra bước ngoặt mới với việc phát triển dự án Tổ hợp trang trại bò sữa tại Lào trên diện tích quy hoạch là ha, quy mô đàn bò con. Định hướng dài hạn là phát triển tổ hợp trang trại có quy mô ha với đàn bò con. Đây là kết quả của sự hợp tác giữa doanh nghiệp 3 nước Lào, Việt Nam và Nhật Bản, hướng đến mục tiêu hình thành vùng nguyên liệu sữa tươi chuẩn quốc tế cung cấp cho thị trường Việt Nam và khu vực châu Á. Siêu trang trại Lào Jagro tại Lào với quy mô lên đến con bò Liên doanh Del Monte - Vinamilk là thành viên mới nhất trong hệ thống các công ty thành viên của Vinamilk. Tháng 8/2021, Vinamilk và đối tác Del Monte Philippines, Inc công bố Liên doanh Del Monte - Vinamilk với tổng vốn đầu tư giai đoạn đầu là 6 triệu USD, Vinamilk và đối tác góp 50% mỗi bên. Hiện tại các sản phẩm của Del Monte đang có mặt tại hơn điểm bán lẻ tại Philippines. Các dự án này được đánh giá là những dấu ấn mới trong sự phát triển của Vinamilk và các công ty con, công ty liên kết tại nước ngoài cũng như nâng cao mối quan hệ hợp tác toàn diện, bền vững, lâu dài giữa Việt Nam và các quốc gia khác, góp phần mang đến những bước tiến lớn cho ngành sữa và chăn nuôi bò sữa trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2022, các chi nhánh nước ngoài tiếp tục là đầu tàu tăng trưởng cho hoạt động kinh doanh quốc tế của Vinamilk. Đối với Driftwood, doanh thu ghi nhận mức tăng trưởng trên 30% nhờ đa dạng hóa thêm kênh phân phối để bù đắp cho kênh chủ lực trường học vẫn chưa phục hồi bằng mức trước Covid-19. Ngoài ra, Driftwood duy trì được việc đưa một số sản phẩm của Vinamilk vào thị trường Mỹ. Đối với Angkormilk, doanh thu ghi nhận mức tăng trưởng trên 10% trong năm 2022 nhờ phát triển thêm sản phẩm mới và tăng cường hoạt động phân phối. Tính đến hết quý I/2023, doanh thu thuần các chi nhánh nước ngoài đạt tỷ đồng, tiếp tục tăng trưởng 11,3% so với cùng kỳ nhờ phong độ ổn định của Driftwood tại Mỹ và AngkorMilk tại Campuchia với mức tăng trưởng doanh thu đạt lần lượt là 7% và 11% so với năm ngoái Duy trì và chủ động tìm kiếm các cơ hội xuất khẩu Bên cạnh đầu tư ra các chi nhánh nước ngoài, Vinamilk cũng tích cực trong các hoạt động xuất khẩu. Doanh nghiệp đã khai phá mảng xuất khẩu sữa từ những năm 1997 với thị trường chủ lực là các quốc gia thuộc khu vực Trung Đông. Hiện tại, khu vực này đang đóng góp gần 85% vào tổng doanh thu đến từ hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Vinamilk. “Chúng tôi đã và đang hợp tác với Vinamilk hơn 6 năm và nhập khẩu các sản phẩm từ Vinamilk để phân phối tại chuỗi Siêu thị Foodstuff, New Zeland. Chúng tôi luôn tin tưởng vào chất lượng dịch vụ, cơ sở và chất lượng sản phẩm do công ty sản xuất. Tất cả đều đáp ứng không chỉ quy định của nước nhập khẩu mà còn các yêu cầu cao về thời gian và số lượng giao hàng của hệ thống chuỗi bản lẻ.” Mr David Swain - Remarkable Foods Limited - New Zealand. Tại Gulfood, các khách hàng đến từ Trung Đông biết đến Vinamilk qua các bảng xếp hạng quốc tế đã chủ động tới tìm kiếm các cơ hội giao thương với doanh nghiệp Ngoài Trung Đông, Vinamilk cũng đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại các thị trường lớn như Nhật Bản, Canada, Hàn Quốc, Úc, Trung Quốc… và có mặt tại hầu hết các nước Đông Nam Á... Tính đến nay các sản phẩm của Vinamilk đã đặt chân đến 58 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng kim ngạch xuất khẩu lũy kế đến nay đã vượt 3 tỷ USD. Tính đến thời điểm này, Vinamilk đã thực hiện được xong hầu hết các đơn hàng thuộc các hợp đồng trị giá hơn 100 triệu được ký kết đầu năm và kỳ vọng sự tăng trưởng hơn trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2023. “Tuy các thách thức do biến động lớn trong năm 2022 vẫn còn, nhưng Vinamilk đã có được những kết quả tích cực đầu năm 2023 là hàng chục hợp đồng với giá trị lên đến 100 triệu USD đã được thực hiện. Điều này đặc biệt ý nghĩa kinh tế trong bối cảnh xuất khẩu chung đều gặp khó khăn, chưa kể sản phẩm sữa không phải là sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh của Việt Nam”, ông Võ Trung Hiếu, Giám đốc Kinh doanh quốc tế tại Vinamilk cho biết. Dây chuyền sản xuất sữa dừa đặc xuất khẩu cho thị trường Nhật Bản Có thể nói, những hợp đồng xuất khẩu này không chỉ có giá trị về mặt kinh tế mà cho thấy được sự linh động và chiến lược đúng đắn của doanh nghiệp trong xác định thị trường tiềm năng, đầu tư có trọng điểm, đặc biệt trong ngành sữa - ngành ít lợi thế hơn so với các sản phẩm nông nghiệp khác của Việt Nam. Đại diện Vinamilk cho biết thêm, Vinamilk cũng tích cực tham gia các sự kiện xúc tiến thương mại tại các khu vực, thị trường truyền thống & tiềm năng như Hội chợ Gulfood Dubai, Foodex Nhật Bản, Hội chợ FHA Singapore, Thaifex… Ngoài việc tìm kiếm những cơ hội mở rộng và khai phá thị trường xuất khẩu, đây cũng là các hoạt động để góp phần nâng cao thương hiệu của quốc gia trong ngành sữa. Nhờ đó, doanh nghiệp ghi nhận doanh thu từ thị trường nước ngoài trong quý I/2023 tăng trưởng 9,4% so với cùng kỳ năm 2022, đạt tỷ đồng. Trong đó, doanh thu thuần xuất khẩu tăng trưởng 7,5% so với cùng kỳ, đạt tỷ đồng trong quý I/2023.
Người dẫn đầu thị trường tiếng Anh Market Leader là một công ty có thị phần lớn nhất trong ngành, thường sử dụng sự thống trị của mình tác động đến vị trí cạnh tranh và định hướng thị trường. Hình minh họa. Nguồn dẫn đầu thị trường Market LeaderĐịnh nghĩaNgười dẫn đầu thị trường trong tiếng Anh là Market Leader. Người dẫn đầu thị trường hay người lãnh đạo thị trường là một công ty có thị phần lớn nhất trong ngành, thường sử dụng sự thống trị của mình tác động đến vị trí cạnh tranh và định hướng thị dẫn đầu thị trường có thể là người đầu tiên phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ, tạo ra các đặc tính lí tưởng của sản phẩm và được thị trường coi là thương hiệu để khách hàng liên tưởng tới sản phẩm của chính công trưng- Một công ty có thể trở thành công ty dẫn đầu thị trường bằng cách là người đầu tiên cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Sản phẩm hoặc dịch vụ phải đủ mới lạ để thu hút một lượng lớn người tiêu dùng và sau đó công ty phải tiếp tục quan tâm đến thị hiếu của người tiêu dùng để duy trì sự lãnh đạo trên thị Nếu một công ty tham gia vào thị trường với tư cách là đối thủ cạnh tranh của người dẫn đầu, họ có thể tiếp thị mạnh mẽ phiên bản sản phẩm của riêng mình với các tính năng khác Các đối thủ cạnh tranh tìm kiếm vị thế dẫn đầu thị trường có thể đầu tư mạnh vào nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm, sau đó sử dụng thông tin của người tiêu dùng để phát triển, cải tiến sản phẩm hiện Duy trì thị phần chi phối không chỉ đòi hỏi các công ty nỗ lực giữ chân khách hàng hiện tại bằng cách xây dựng lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu, mà còn phải thu hút những khách hàng mới - những khách hàng tiềm năng chưa biết đến hoặc chưa quen với sản phẩm, dịch vụ của doanh Một công ty cũng có thể thu hút khách hàng của công ty đối thủ bằng cách tìm ra sự kết hợp lí tưởng giữa chất lượng và giá hệ thực tiễn- Trong thời đại hiện đại của Internet, thật dễ dàng để xác định các nhà lãnh đạo thị trường định hướng người tiêu dùng, chẳng hạn như Apple, Google, Amazon và Người dẫn đầu phải cẩn thận khi nói đến cách họ sử dụng để có được thị phần trên thị trường. Nếu một công ty trở nên quá nổi trội trên thị trường hoặc lạm dụng vị trí lãnh đạo của mình, công ty đó có thể trở thành đối tượng của các vụ kiện chống độc Ngoài ra, từ quan điểm của một nhà đầu tư, người dẫn đầu thị trường không nhất thiết là công ty có lợi nhuận cao nhất. Mặc dù có thị phần lớn nhất, nhưng có thể xảy ra trường hợp tổng chi phí của công ty bao gồm chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm R & D, chi phí sản xuất, chi phí tiếp thị, ... quá cao để khiến công ty có lợi nhuận cao nhất trong số các đối thủ cạnh tranh.Tài liệu tham khảo Market Leader, Investopedia
Đặc điểm của những người dẫn đầu thị trườngĐầu tiênThứ haiThứ baChiến lược dẫn đầu thị trườngLợi thế Khả năng dẫn đầu thị trường là khả năng hoặc hành động gây ảnh hưởng hoặc định hướng thị trường. Các công ty có thể làm được điều này mà chúng tôi gọi là công ty dẫn đầu thị trường, có thị phần cao nhất và thường bỏ xa các công ty lớn thứ hai. Các công ty có thể sử dụng sự thống trị của mình để tác động đến thị trường, cho dù về giá cả, tiêu chuẩn chất lượng hay các thông lệ tốt nhất. Trong một tổ chức, các nhà lãnh đạo có vai trò thiết yếu trong việc chỉ đạo công ty. Tương tự như vậy, vị trí dẫn đầu thị trường là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến hướng và cường độ cạnh tranh trên thị trường. Các nhà lãnh đạo thị trường được coi là quyền lực chi phối và quyết định giá cả, chiến lược và cường độ khuyến mại. Chúng cũng thường trở thành điểm chuẩn cho các đối thủ cạnh tranh trong việc phát triển các chiến lược. Chiến lược dẫn đầu thị trường Đầu tiên Nó có thị phần lớn nhất. Bạn tính thị phần bằng cách chia quy mô công ty cho quy mô thị trường. Bạn có thể đo lường số lượng khách hàng, khối lượng bán hàng hoặc giá trị bán hàng để tính toán. Tóm lại, các công ty dẫn đầu thị trường có số lượng khách hàng hoặc doanh số bán hàng lớn nhất so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Thị phần là cách hiệu quả nhất để đo lường mức độ thành công của một công ty so với các đối thủ cạnh tranh. Khi một công ty có thị phần lớn nhất, chúng tôi cho rằng nó có một chiến lược hiệu quả hơn. Nếu thị phần tăng lên theo thời gian, điều đó cho bạn thấy hoạt động tiếp thị sản phẩm của công ty thành công hơn các đối thủ cạnh tranh. Thứ hai Nó phải có một lợi thế cạnh tranh. Porter cung cấp cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về các nguồn lợi thế cạnh tranh. Ông nói rằng nó có thể đến từ sự dẫn đầu về chi phí và sự khác biệt. Dưới sự dẫn dắt về chi phí, công ty dẫn đầu thị trường có khả năng có cơ cấu chi phí thấp hơn mức trung bình của ngành. Do đó, các công ty nên tạo ra nhiều lợi nhuận hơn so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Thị phần lớn nhất cho thấy công ty có thể bán sản phẩm với khối lượng lớn. Điều đó cho phép nó đạt được quy mô kinh tế cao hơn và chi phí đơn vị thấp hơn. Công ty có thể tính giá ở mức trung bình của ngành. Hoặc, công ty có thể hạ thấp hơn mức trung bình một chút để thu hút thêm nhu cầu. Theo chiến lược khác biệt hóa, công ty dẫn đầu thị trường đưa ra đề xuất bán hàng độc đáo nhất, ít nhất là trong mắt người tiêu dùng. Sản phẩm của nó làm hài lòng khách hàng hơn những sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh. Do đó, người tiêu dùng có lý do chính đáng để thích sản phẩm của công ty hơn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh và sẵn sàng trả giá cao hơn. Nguồn gốc xuất sắc dẫn đầu thị trường không chỉ là về sản phẩm và giá cả mà còn từ các hỗn hợp tiếp thị khác, bao gồm Kênh phân phối rộng khắp. Người dẫn đầu thị trường có thể tiếp cận nhiều người tiêu dùng hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Công ty có thể xây dựng nó trong nội bộ hoặc phối hợp với một nhà phân phối hoặc nhà bán lẻ lớn trên thị trường. Khuyến mại chuyên sâu. Nó có thể thực hiện được thông qua chi tiêu quảng cáo lớn. Công ty cũng phát triển các kênh quảng bá hiệu quả nhằm tạo dựng hình ảnh mạnh mẽ trong mắt khách hàng. Thứ ba Trở thành mục tiêu cho các đối thủ cạnh tranh. Một số đối thủ cạnh tranh có thể tìm cách tấn công người dẫn đầu thị trường và chiếm lấy vị trí dẫn đầu thị trường. Có thể thông qua việc giảm giá mạnh để lấy lòng khách hàng. Những người làm được điều này được gọi là những người thách thức thị trường. Trong khi đó, một số công ty khác lại thích bắt chước các công ty dẫn đầu thị trường. Chúng tôi gọi họ là những người theo dõi thị trường. Họ không thích chấp nhận rủi ro như những kẻ thách thức thị trường. Họ thích quan sát những gì người dẫn đầu thị trường đang làm và sau đó phát triển một chiến lược cho phù hợp. Chiến lược dẫn đầu thị trường Ba chiến lược chung là Phát triển tổng cầu thị trường Mở rộng thị phần Bảo vệ thị phần Thứ nhất, Phát triển toàn thị trường. Trong trường hợp này, người dẫn đầu thị trường cố gắng tăng tổng cầu trên thị trường. Điều đó có thể thực hiện được bằng cách xác định các công dụng mới của sản phẩm. Sự gia tăng nhu cầu thị trường có lợi cho các công ty dẫn đầu thị trường và cho các đối thủ cạnh tranh nói chung. Khi quy mô của nhu cầu thị trường tăng lên, người chơi được hưởng tiềm năng bán hàng cao hơn. Thứ hai, Mở rộng thị phần. Từ khóa là tăng thị phần. Các nhà lãnh đạo thị trường có thể sử dụng chiến lược phát triển sản phẩm mới, quảng cáo, định giá, khuyến khích phân phối, sáp nhập và tiếp quản, và các chiến lược khác mạnh mẽ hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Mục tiêu là tạo ra doanh số bán hàng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh trung bình, thông qua Thu hút thêm nhiều khách hàng mới Tăng mua hàng lặp lại Chuyển hướng khách hàng khỏi đối thủ cạnh tranh Thứ ba, Bảo vệ thị phần. Đây là một chiến thuật phòng thủ, trong đó công ty cố gắng duy trì sự thống trị của mình. Từ khóa là thị phần không thay đổi. Đó có thể là thông qua việc tích cực quảng bá, phân phối và phát triển các sản phẩm mới. Công ty đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng doanh số với tốc độ tương đương với tốc độ tăng quy mô thị trường. Yếu tố xem xét Ba yếu tố cần thiết là để một công ty phát triển vị trí dẫn đầu thị trường. Họ đang Hoạt động xuất sắc Dẫn đầu về sản phẩm Sự thân thiết của khách hàng Để đạt được sự xuất sắc trong hoạt động, công ty dẫn đầu thị trường có thể đạt được điều này bằng cách áp dụng công nghệ tiên tiến hơn, đổi mới quy trình, cơ cấu tổ chức phù hợp, mạng lưới hậu cần xuất sắc và nguồn nhân lực đáng tin cậy. Dưới sự dẫn dắt của sản phẩm, các công ty phải sản xuất các sản phẩm mới, sáng tạo để thu hút nhiều người tiêu dùng mua hơn. Họ phải tung sản phẩm phù hợp ra thị trường sớm hơn, để họ đi trước các đối thủ cạnh tranh một bước trong việc giành được khách hàng. Trong vấn đề thân thiết với khách hàng, các công ty phải thích ứng với thị hiếu và mong muốn của người tiêu dùng, ví dụ, thông qua quản lý quan hệ khách hàng. Công ty kết hợp kiến thức khách hàng với sự linh hoạt trong hoạt động để có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. Lợi thế Trở thành người dẫn đầu thị trường mang lại một số lợi ích Thứ nhất, lợi nhuận cao hơn. Công ty tạo ra khối lượng bán hàng cao hơn, cho phép giảm chi phí thông qua quy mô kinh tế cao hơn. Giảm chi phí có thể đến từ một số nguồn như thông qua Phân bổ chi phí cố định chẳng hạn như chi phí thuê máy cho sản lượng nhiều hơn Giảm giá khi mua nguyên liệu thô với số lượng lớn Chuyên môn hóa để tăng năng suất Thứ hai, sản phẩm của công ty có vị trí nổi bật nhất trong kênh phân phối. Các nhà phân phối hoặc nhà bán lẻ thích các sản phẩm dẫn đầu thị trường vì nhu cầu cao của chúng. Họ quan tâm đến việc đặt các sản phẩm dẫn đầu thị trường trên các kệ hàng quan trọng. Họ cũng sẵn sàng quảng bá các thương hiệu dẫn đầu thị trường. Thứ ba, vị thế thương lượng đối với các nhà cung cấp mạnh hơn. Các nhà cung cấp thích làm việc với các nhà lãnh đạo thị trường vì họ có thể bán đầu vào của mình với khối lượng lớn. Để duy trì sự hợp tác, các nhà cung cấp có thể giảm giá hoặc các điều khoản tín dụng khoan dung hơn. Đối với những người dẫn đầu thị trường, những lời chào hàng như vậy có lợi vì chúng giảm được chi phí. Thứ tư, nó là tài liệu chính để quảng bá. Các công ty có thể sử dụng tuyên bố của họ với tư cách là người dẫn đầu thị trường trong các chiến dịch quảng cáo và các tài liệu quảng cáo khác. Những tuyên bố như vậy khiến người tiêu dùng tin tưởng hơn về sản phẩm của công ty. Điều đó ảnh hưởng đến nhiều người tiêu dùng mua nó hơn. Thứ năm, thu hút nhiều nhân tài. Các công ty sẽ dễ dàng hơn trong việc tuyển dụng những tài năng tốt nhất. Mọi người thích làm việc cho những công ty lớn nhất và thành công nhất. Ngoài việc có uy tín, các công ty có thể cung cấp các con đường sự nghiệp tốt hơn và đảm bảo việc làm. Thứ sáu, tiếp cận tài chính tốt hơn. Các công ty dẫn đầu thị trường được đánh giá là có năng lực tài chính tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Ngoài ra, các nhà đầu tư hoặc chủ nợ thích các công ty có thị phần cao nhất vì họ nghĩ rằng họ kiếm được nhiều tiền. Lấy ví dụ, một ngân hàng. Họ có thể chọn khách hàng vay mục tiêu từ thị phần của mỗi công ty. Sau đó, họ kiểm tra tình trạng tài chính của anh ta. Bởi vì nó có thị phần cao nhất, ngân hàng cho rằng người dẫn đầu thị trường nên tạo ra thu nhập cao nhất. Sau đó, họ kiểm tra tình hình tài chính của công ty, liệu dòng tiền cuối cùng thu nhập ròng và dòng tiền hoạt động có phản ánh điều này hay không Dịch vụ Luận Văn Tri Thức Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website Post Views 202
Trong kinh doanh, thâm nhập thị trường Market penetration là một khái niệm vô cùng quan trọng mà những công ty khởi nghiệp, hay những doanh nghiệp có dự định phát triển ở một lĩnh vực mới phải đặc biệt quan tâm. Bạn là một marketer, bắt buộc bạn phải xác định đúng vấn đề này, có như thế mới định hướng được một chiến lược kinh doanh có tỷ lệ rủi ro thấp nhất. Bài viết hôm nay sẽ giúp bạn có được một cái nhìn tổng quan về Market penetration cũng như đào sâu phân tích các chiến lược thâm nhập thị trường đang được đánh giá cao hiện nay, mời bạn cùng theo dõi nhé. Nội dung bài viết1. Thâm nhập thị trường là gì? Mức độ thâm nhập thị trường có ý nghĩa gì?2. Chiến lược xâm nhập thị trường là gì? Vì sao xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường lại quan trọng với doanh nghiệp?3. Các chiến lược thâm nhập thị trường phổ Định giá thâm nhập thị Điều chỉnh giá chiến lược tăng hoặc giảm giá Chiến lược chủ động tăng Chiến lược chủ động giảm Tăng cường quảng Mở rộng kênh phân Cải tiến sản Liên minh chiến lược mua hoặc liên kết với doanh nghiệp trong ngành4. Các bước để thâm nhập thị trường Nghiên cứu quy mô thị Phân khúc thị Chọn thị trường mục Định vị sản Định giá sản Chọn chiến lược thâm nhập phù Marketing tăng thị Khảo sát phản hồi của khách hàng và cải thiện sản phẩm5. Những lưu ý, sai lầm cần tránh khi thâm nhập thị trường6. Tổng kết 1. Thâm nhập thị trường là gì? Mức độ thâm nhập thị trường có ý nghĩa gì? Thâm nhập thị trường Market penetration là việc bán thành công một sản phẩm hoặc dịch vụ trong một thị trường mới. Mức độ thâm nhập thị trường chính là phần trăm tổng số lượng sản phẩm/dịch vụ mà khách hàng sử dụng so với tổng quy mô thị trường mục tiêu cho sản phẩm/dịch vụ đó. Mục tiêu của thâm nhập thị trường là giành được “miếng bánh thị phần” Công thức tính Mức độ thâm nhập thị trường = số lượng khách hàng sử dụng / quy mô thị trường mục tiêu x 100. Ví dụ, nếu thị trường mục tiêu ngành smartphone trong một quốc gia là 100 triệu người và hiện có 25 triệu người trong số họ sở hữu điện thoại di động, thì mức độ thâm nhập thị trường sẽ là 25%. Về lý thuyết, vẫn còn hơn 75 triệu khách hàng tiềm năng sẽ sử dụng smartphone, hay 75% thị trường vẫn chưa được khai thác. Mức độ thâm nhập thị trường cho thấy tiềm năng phát triển của các nhà sản xuất smartphone trong tương lai, có đáng để đầu tư vào ngành này hay không. Như ví dụ ở trên, mức độ thâm nhập thị trường có thể sử dụng để xác định quy mô về một thị trường tiềm năng nào đó. Nếu như tổng thị trường lớn, những doanh nghiệp mới tham gia có thể vẫn còn cơ hội giành được “miếng bánh thị phần”. Nói đơn giản hơn thì xâm nhập thị trường chính là cách để doanh nghiệp đánh giá toàn bộ ngành, từ đó xác định được tiềm năng cũng như vị trí của công ty trong ngành, có thể tăng doanh thu hoặc giành thị phần thông qua chiến lược kinh doanh, bán hàng hay không. Nếu như thị trường được xem là bão hòa, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp mới sẽ không còn chỗ cho sự tăng trưởng doanh thu bởi các doanh nghiệp hiện tại đã chiếm phần lớn thị phần. 2. Chiến lược xâm nhập thị trường là gì? Vì sao xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường lại quan trọng với doanh nghiệp? Chiến lược thâm nhập thị trường Market penetration strategy là các chiến lược áp gia tăng thị phần cho các sản phẩm/dịch vụ mới của doanh nghiệp hoặc sản phẩm/dịch vụ cũ nhưng được đưa vào thị trường mới bằng các nỗ lực Marketing. Chiến lược thâm nhập thị trường giúp gia tăng thị phần cho doanh nghiệp Các chiến lược xâm nhập thị trường thường sẽ được áp dụng vào đầu chu kỳ của hàng hóa, tức giai đoạn giới thiệu sản phẩm. Thời điểm này, khách hàng có thể chưa biết tới mặt hàng hoặc dịch vụ mà phía doanh nghiệp tung ra thị trường, doanh số còn thấp, phía công ty phải đầu tư nhiều vào các chiến lược marketing truyền thông nhằm quảng bá sản phẩm/dịch vụ đến khách hàng. Các trường hợp nên sử dụng chiến lược xâm nhập thị trường Khi lợi thế kinh tế nhờ quy mô tăng lên, tạo các lợi thế cạnh tranh cơ bản cho doanh sự tương quan chặt chẽ giữa chi phí marketing và doanh số bán hàng trong quá khứKhi lượng tiêu thụ toàn ngành đang tăng lên và thị phần của đối thủ cạnh tranh chính đang giảm tỷ lệ sử dụng sản phẩm của các khách hàng hiện tại có thể gia tăng một cách đáng kểKhi một loại sản phẩm hoặc dịch vụ chưa bão hòa ở thị trường hiện tại… 3. Các chiến lược thâm nhập thị trường phổ biến Để có thể thâm nhập thị trường thành công, doanh nghiệp phải nghiên cứu và cân nhắc lựa chọn áp dụng những chiến lược phù hợp. Một số chiến lược xâm nhập thị trường phổ biến mà bạn có thể tham khảo Định giá thâm nhập thị trường Định giá thâm nhập thị trường tiếng Anh Penetration Pricing được dùng khi doanh nghiệp chuẩn bị tung ra thị trường một sản phẩm hoặc dịch vụ mới, theo đó giá sản phẩm hoặc dịch vụ này sẽ thấp hơn so với mức giá phổ biến trên thị trường ở thời điểm hiện tại. Định giá thấp khuyến khích nhiều người mua hơn Mục đích của việc sử dụng chiến lược này chính là khuyến khích người mua nhằm nhanh chóng mở rộng thị trường, tăng mức độ tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ. Sau một thời gian, doanh nghiệp sẽ được thị trường chấp nhận và chiếm được thị phần lớn, xa hơn có thể dẫn đầu thị trường. Chiến lược định giá thâm nhập thị trường thích hợp với những doanh nghiệp có quy mô lớn, bởi khi sản xuất càng nhiều sản phẩm thì giá thành đơn vị sẽ càng thấp. Một mức giá và lợi nhuận nhuận thấp cũng là yếu tố để cản trở sự phát triển hay thâm nhập thị trường của những đối thủ cạnh tranh. Nếu đối thủ cạnh tranh có thể thâm nhập một cách nhanh chóng vào thị trường chứng tỏ tiềm năng thị trường đó rất hứa hẹn, nhà kinh doanh nên theo đuổi chiến lược này. Đặc biệt, việc định giá thâm nhập thị trường rất phù hợp với những sản phẩm/dịch vụ mang tính đại trà, ít sự khác biệt, thị trường phân phối rộng, khách hàng mục tiêu đa dạng… Điểm trừ của chiến lược này chính là việc tăng giá sẽ khó, thậm chí là không thể thực hiện được, đồng nghĩa công ty có thể vĩnh viễn mắc kẹt trong công việc kinh doanh lợi nhuận thấp. Vì thế doanh nghiệp phải có phương án giải quyết sao cho phù hợp để “vẹn cả đôi đường”. Điều chỉnh giá chiến lược tăng hoặc giảm giá Chiến lược giá là việc triển khai các phương án về giá của sản phẩm hoặc dịch vụ giúp cho doanh nghiệp đạt được một hay nhiều mục tiêu marketing, chủ yếu thông qua việc áp dụng một mức giá hợp lý tại một thời điểm xác định. Tùy thuộc vào tình hình của thị trường và công ty mà doanh nghiệp sẽ quyết định lựa chọn tăng giá hoặc giảm giá. Tuy nhiên, dù doanh nghiệp lựa chọn hình thức nào thì đề phải dự tính phản ứng của khách hàng và các đối thủ cạnh tranh về sự thay đổi này. Chiến lược điều chỉnh giá giúp thu hút khách hàng Chiến lược chủ động tăng giá Khi cầu lớn hơn cung thì hầu hết các doanh nghiệp đều có kế hoạch tăng giá dịch vụ hoặc sản phẩm để thu về mức lợi nhuận cao hơn. Cũng có những trường hợp doanh nghiệp chủ động tăng giá không phải vì cung hay cầu mà do giá nguyên liệu đầu vào tăng hoặc sự thay đổi trong chiến lược định vị sản phẩm của doanh nghiệp. Chiến lược chủ động tăng giá sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý, thái độ của khách hàng khi lựa chọn về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp khi áp dụng chiến lược tăng giá sẽ kèm theo các ưu đãi như miễn phí dịch vụ kèm theo, tặng kèm sản phẩm khác nhằm giữ chân khách hàng, giữ vững thị phần. Chiến lược chủ động giảm giá Khi nguồn cung lớn hơn cầu chính là lúc doanh nghiệp phải xem xét quyết định giảm giá sản phẩm/dịch vụ. Điều này sẽ giúp các sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh so với các đối thủ khác, từ đó giữ vững hoặc gia tăng thị phần. Một số trường hợp có thể không phải do nguồn cung lớn hơn cầu doanh nghiệp vẫn áp dụng chiến lược giảm giá, mục đích chính là gia tăng thị phần, hạ gục đối thủ cạnh tranh, thống lĩnh thị phần. Tuy nhiên, chiến lược thâm nhập thị trường bằng cách giảm giá sẽ khiến doanh nghiệp phải chịu tổn thất về lợi nhuận trong đa số trường hợp. Chưa kể, điều này còn làm thay đổi nhận thức khách hàng theo hướng có phần tiêu cực về sản phẩm/dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Tăng cường quảng cáo Tăng cường quảng cáo hay còn gọi là Aggressive Advertising là một chiến lược xâm nhập thị trường bằng các hình thức quảng cáo ở nhiều “mặt trận” khác nhau nhằm tiếp cận đối tượng mục tiêu một cách rộng rãi. Các phương thức thường được sử dụng như Băng rôn, banner, biển quảng cáo, báo in, truyền hình, truyền thông… Các Marketers đừng quên sử dụng vài kỹ thuật tiếp thị mang tính năng đột phá, sáng tạo để tăng hiệu quả quảng cáo nhé. Mở rộng kênh phân phối Số lượng, chất lượng, loại hình kênh phân phối ngày càng đa dạng và thay đổi không ngừng để đáp ứng nhu cầu của người mua hàng. Việc thấu hiểu và tăng cường các kênh phân phối sẽ giúp doanh nghiệp có được chiến lược phát triển phù hợp để “đẩy” hàng về tay người tiêu dùng một cách tốt nhất. Mở rộng kênh phân phối giúp khách hàng dễ tiếp cận với sản phẩm hơn Mỗi kênh phân phối sẽ có những đặc điểm riêng, phù hợp với từng sản phẩm/dịch vụ cũng như lĩnh vực khác nhau mà doanh nghiệp hướng tới. Những kênh phân phối phổ biến mà doanh nghiệp cần phải quan tâm và tìm hiểu Kênh tiêu dùng trực tiếp là kênh phân phối chỉ gồm 2 thành phần là nhà sản xuất và người tiêu dùng. Nhà sản xuất bán sản phẩm của mình trực tiếp đến người dùng cuối cùng. Kênh phân phối truyền thống là kênh phân phối có hệ thống phân phối phủ rộng, bao gồm nhiều cấp bậc từ nhà bán sỉ, đến nhà bán lẻ cuối cùng là tới tay của người tiêu dùng thông qua các điểm bán hàng như Đại lý, siêu thị, chợ truyền thống, cửa hàng tạp hóa,… Kênh phân phối hỗn hợp là kênh phân phối kết hợp giữa kênh trực tiếp và kênh truyền thống để tạo ra một hệ thống phân phối đa dạng thống nhất, tăng tối đa các điểm tiếp xúc với khách hàng. Cải tiến sản phẩm Cải tiến sản phẩm là một loạt các hoạt động bao gồm Cải tiến kiểu dáng, cải tiến tính năng và cải tiến chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thay đổi của thị trường. Đây cũng là một trong các chiến lược thâm nhập thị trường hiệu quả, mang lại lợi ích kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, giúp doanh nghiệp kéo dài doanh thu ổn định. Liên minh chiến lược mua hoặc liên kết với doanh nghiệp trong ngành Liên minh chiến lược Strategic alliances là những thỏa thuận hợp tác của các công ty hoặc đối tác cùng chung một thị trường mục tiêu, có những sản phẩm/dịch vụ tương đồng nhau. Mục đích của liên minh chiến lược là tạo ra những lợi ích chung, gia tăng lợi thế cạnh tranh với những đối thủ ngoài “nhóm liên minh”. Liên minh chiến lược giúp gia tăng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ Thay vì phát triển từ bên trong, việc mua hoặc liên kết với doanh nghiệp trong ngành sẽ giúp công ty đạt được mục tiêu dễ dàng hơn, ít rủi ro hơn. Ngoài ra, chiến lược xâm nhập thị trường này còn mang lại nhiều lợi ích khác như Tiếp cận thị trường mới với sản phẩm/dịch vụ mớiTiếp cận thị trường quốc tếTiếp cận kênh phân phối mớiTruy cập công nghệ mớiCó lợi từ tính kinh tế theo quy môGiảm chi phí và rủi ro của chiến lược hoặc sản phẩm mớiCải thiện độ tin cậy… 4. Các bước để thâm nhập thị trường mới Thâm nhập thị trường mới không phải là điều dễ dàng, kể cả đối với những doanh nghiệp có nguồn lực mạnh. Để thành công trên một thị trường mới, bạn phải xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường khoa học, hợp lý và đừng bỏ qua 8 bước cơ bản nhưng cực kỳ quan trọng dưới đây Nghiên cứu quy mô thị trường Nghiên cứu quy mô thị trường là bước cực kỳ quan trọng trong quá trình xâm nhập thị trường, là căn cứ để trả lời các câu hỏi Thị trường này có đủ lớn và hấp dẫn?Có nên phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới ở thị trường này?Có nên rút vốn/tăng vốn ở thị trường này không?Có nên đầu tư sản phẩm/dịch vụ vào thị trường này không? Bước đầu tiên và quan trọng nhất để kinh doanh hiệu quả Một khi bạn hiểu chính xác về quy mô thị trường, bạn sẽ có lợi thế đang kể để phát triển bền vững, tạo khả năng sinh lời, thu hút khách hàng và cạnh tranh với những đối thủ cùng lĩnh vực. Bạn có thể xác định được quy mô thị trường theo các bước Phương pháp tiếp cận từ trên xuống -> Phân tích từ dưới lên -> Phân tích đối thủ cạnh tranh. 3 bước này sẽ giúp bạn có được định hướng cơ bản về quy mô thị trường, tạo tiền đề để tìm ra thị trường mục tiêu của doanh nghiệp. Phân khúc thị trường Việc phân khúc thị trường là bước thứ 2 để thâm nhập thị trường hiệu quả, bước này nhằm mục đích chia thị trường thành nhiều phân khúc nhỏ hơn, dễ nhận biết, nắm bắt khách hàng tiềm năng và đáp ứng nhu cầu thị trường một cách hiệu quả hơn. Các 3 cách phân khúc thị trường phổ biến được các doanh nghiệp áp dụng nhiều nhất Phân khúc thị trường người tiêu dùng có 4 phân khúc nhỏ theo Địa lý, Nhân chủng học, Tâm lý và Hành vi tiêu khúc thị trường doanh nghiệpPhân khúc thị trường quốc tế Doanh nghiệp sẽ dựa vào phân đoạn thị trường để cân nhắc và đưa ra những quyết định phù hợp để phát triển kế hoạch marketing được hiệu quả nhất. Chọn thị trường mục tiêu Khi bạn đã thực hiện phân tích thị trường và đánh giá được khả năng của nó thì đã đến lúc bạn ưu tiên những thị trường có khả năng phát triển, mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thị trường mục tiêu được lựa chọn phải là phân khúc thị trường hấp dẫn và phù hợp với mục tiêu, nguồn lực của doanh nghiệp. Hãy cố gắng thực hiện xác định thị trường mục tiêu bởi đây chính là yếu tố quan trọng để doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh khách hàng thành công! Định vị sản phẩm Định vị sản phẩm Product positioning là một cách để doanh nghiệp xây dựng dấu ấn riêng của mình. Theo đó khi doanh nghiệp sản xuất ra một sản phẩm hay cung cấp đến thị trường một dịch vụ nào đó điều quan trọng là định vị chúng, tạo ra những thiết kế có đặc tính khác biệt so với các sản phẩm/dịch vụ của đối thủ cạnh tranh. Định vị sản phẩm tạo sự khác biệt thu hút khách hàng Để định vị sản phẩm thành công, bạn sẽ phải nắm chắc được việc suy nghĩ và cảm nhận của khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ như thế nào. Đâu sẽ là đặc điểm nổi bật được đông đảo khách hàng yêu thích nhất? Và doanh nghiệp của bạn hiện tại đang có những lợi thế nào để tạo ra được những đặc tính đó. Sau khi có câu trả lời, doanh nghiệp sẽ có những kế hoạch cụ thể để định vị sản phẩm một cách chính xác và hiệu quả nhất. Định giá sản phẩm Để định giá sản phẩm đòi hỏi rất nhiều yếu tố, nó không chỉ đơn giản là chi phí bạn bỏ ra cho tới khi bán sản phẩm đó. Định giá bán sản phẩm/dịch vụ cũng cần phải tuân theo chiến lược, bạn có thể tham khảo một số chiến lược từ thâm nhập thị trường, giá hớt váng…và đừng quên ghi nhớ 5 bước cơ bản để định giá sản phẩm Bước 1 Tính giá vốn cho sản phẩmBước 2 Nghiên cứu thị trường, phân khúc khách hàngBước 3 Xác định mức lợi nhuận doanh nghiệp mong muốnBước 4 Đặt giá niêm yết giá bán lẻBước 5 Đặt giá bán sỉ Chọn chiến lược thâm nhập phù hợp Như đã giới thiệu, chúng ta có 6 chiến lược thâm nhập thị trường phổ biến, hãy căn cứ vào thực trạng, số liệu thống kê, khách hàng, thị trường và cả mục tiêu, điều kiện của doanh nghiệp để đưa ra những chiến lược phù hợp nhất. Bạn có thể kết hợp nhiều chiến lược xâm nhập thị trường với nhau để gia tăng hiệu quả, phát triển kinh doanh. Marketing tăng thị phần Marketing tăng thị phần là một cách đề giúp doanh nghiệp doanh nghiệp thành công hơn trên “thương trường”. Không chỉ mang lại thị phần cao, nó còn tạo ra nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như giảm tỷ lệ chiết khấu bán lẻ, tăng lợi nhuận thu được, đẩy doanh số tăng cao, chiếm ưu thế hơn về các kênh phân phối…. Bạn có thể Marketing tăng thị phần bằng các cách như Đổi mới hoặc cải tiến sản phẩm, Phát triển phân khúc thị trường mới, Đa dạng hóa các hình thức tiếp thị… Chiến lược marketing giúp doanh nghiệp tăng thị phần nhanh chóng Khảo sát phản hồi của khách hàng và cải thiện sản phẩm Đừng quên khảo sát phản hồi của khách hàng để đo lường hiệu quả của các chiến lược thâm nhập thị trường. Bạn có thể sử dụng khảo sát thị trường online hoặc offline để thu thập dữ liệu người dùng. Từ đó biết được mong muốn, yêu cầu của khách hàng, đưa ra các kế hoạch đổi mới, cải thiện sản phẩm theo xu hướng của thị trường để gia tăng mức độ thành công cho việc kinh doanh. 5. Những lưu ý, sai lầm cần tránh khi thâm nhập thị trường Đối với mỗi doanh nghiệp, quá trình phân tích và xâm nhập thị trường là vô cùng quan trọng, nếu chủ quan và phạm sai lầm thì sẽ dẫn đến việc lãng phí thời gian, tiền bạc cũng như nguồn lực đầu tư. Do đó, hãy ghi nhớ những sai lầm khi thâm nhập thị trường dưới đây để tránh được những sai sót và có những bước đi đúng đắn Không biết mình cần gì khi xâm nhập thị trường, dẫn đến việc lan man và lãng phí công dùng nghiên cứu thứ cấp những thông tin này chỉ mang tính bao quát chung và chưa thể phân tích rõ và giải quyết được vấn đề cụ thể cho doanh nghiệpSử dụng nguồn thông tin không đáng tinLạm dụng khảo sát định tínhChọn sai đối tượng đáp viênChỉ dùng một nguồn thông tinCâu hỏi quá dài, quá rộng hay không đủ sâuChỉ muốn xác nhận ý kiến từ trướcNgó lơ kết quả phân tích thị trường 6. Tổng kết Thông qua bài viết, chắc hẳn bạn đã hiểu thâm nhập thị trường là gì và các chiến lược thâm nhập thị trường rồi phải không? Việc xâm nhập thị trường mà doanh nghiệp không thể bỏ qua, chính vì thế hãy lên kế hoạch và đưa ra những phương án phù hợp để thu về kết quả tốt nhất. Đây sẽ là tiền đề để doanh nghiệp phát triển sản phẩm/dịch vụ của công ty, đồng thời khẳng định giá trị, mở rộng quy mô và thị phần của mình một cách hiệu quả.
dẫn đầu thị trường